Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Tiểu Bộ › Lịch Sử Đức Phật Gotama

Lịch Sử Đức Phật Gotama

27. Gotamabuddhavaṁsa · BV27 · 103 đoạn

Đức Phật tự kể lịch sử của chính mình: Ngài là bậc Toàn Giác Gotama, niềm vinh hiển của dòng Sākya; theo lời thỉnh của Phạm Thiên, Ngài chuyển bánh xe Chánh Pháp tại Isipatana, lần lãnh hội đầu tiên gồm mười tám koṭi vị, lần hội tụ duy nhất gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỷ-kheo. Ngài sống đời gia đình hai mươi chín năm, ra đi bằng ngựa, khổ hạnh sáu năm, giác ngộ tại cây Assattha; hào quang của Ngài cao mười sáu cánh tay, tuổi thọ ít ỏi chỉ một trăm năm, và chẳng bao lâu nữa Ngài cũng sẽ nhập Niết-bàn tại chính nơi này như ngọn lửa cạn nhiên liệu.

Điểm thực hành

Chính đức Phật cũng nói trước việc nhập Niết-bàn của mình “như ngọn lửa cạn nguồn nhiên liệu” — bậc Giác Ngộ không né tránh vô thường của chính thân mình, mà chỉ thẳng vào đó để dạy thế hệ sau.

Phật Sử Lịch Sử Đức Phật Gotama

Sau khi ra sức nỗ lực, ta đã đạt được quả vị Toàn Giác tối thượng
trở thành đấng Toàn Giác Gotama
trong thời hiện tại
và là sự vinh hiển của dòng họ Sākya (Thích Ca).
Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu,
ta đã chuyển vận bánh xe Chánh Pháp.
Đã có sự lãnh hội lần thứ nhất
là của mười tám koṭi (một trăm tám chục triệu) vị.
Sau đó vào dịp khác,
trong khi đang thuyết giảng ở cuộc tụ hội của loài người và chư thiên,
đã có sự lãnh hội lần thứ nhì
là không thể nói được bằng cách tính đếm.
Trong thời hiện tại,
ta đã giáo giới người con trai của ta
ngay ở nơi đây;
đã có sự lãnh hội lần thứ ba là không thể nói được bằng cách tính đếm.
Ta đã có một lần tụ hội
gồm các vị Thinh Văn đại ẩn sĩ.
Đã có cuộc hội tụ
của một ngàn hai trăm năm chục vị tỳ khưu.
Sáng chói không ô nhiễm
ở giữa hội chúng tỳ khưu,
ta đã ban phát tất cả các điều đã được mong mỏi,
tương tợ như ngọc ma-ni ban cho mọi điều ước muốn.
Vì lòng thương thưởng chúng sanh,
ta đã giảng giải bốn Chân Lý
đến những người tầm cầu sự dứt bỏ lòng mong muốn tái sanh và
đang ước ao (Thánh) Quả.
Đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của chục ngàn,
hai chục ngàn.
Sự lãnh hội của một hoặc hai người
là không thể đếm được theo cách thức tính toán.
Ở đây, giáo lý của ta, của đấng Hiền Triết dòng Sākya,
là khéo được thanh lọc,
phổ biến đến nhiều người,
có kết quả, phong phú, đã được nở rộ bông hoa.
Hàng trăm vị tỳ khưu, không còn lậu hoặc,
tham ái đã lìa,
có tâm thanh tịnh, định tĩnh;
tất cả luôn quây quần xung quanh ta.
Giờ đây trong thời hiện tại, những vị nào buông bỏ sự tái sanh trong cõi người
(nhưng) tâm ý chưa đạt,2
(còn) là các bậc Hữu Học,
những vị tỳ khưu ấy bị bậc trí chê trách.
Những người ca ngợi đạo lộ của các bậc Thánh Nhân,
luôn luôn thỏa thích trong Giáo Pháp,
có niệm,
là những người sẽ được giác ngộ dầu còn bị xuôi giòng chảy luân hồi.
Thành phố của ta là Kapilavatthu,
người cha là đức vua Suddhodana,
người mẹ sanh ra ta
gọi là “Hoàng Hậu Māyā.”
Ta đã sống đời sống gia đình
trong hai mươi chín năm.
Có ba tòa lâu đài tuyệt vời
là Ramma, Suramma, Subhaka.
Có bốn mươi ngàn
phụ nữ được trang điểm.
Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Bhaddakaccānā.
Con trai tên là Rāhula.
Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu,
Ta đã ra đi bằng phương tiện ngựa
và đã thực hành hạnh nỗ lực trong sáu năm
là việc khó thực hành được.
Ta là bậc Toàn Giác Gotama,
đấng Chiến Chắng,
đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp) tại Isipatana, thành Bārāṇasī,
và là nơi nương nhờ của tất cả chúng sanh.
Hai vị tỳ khưu Kolita và Upatissa
là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu.
Vị thị giả tên là Ānanda
luôn hiện diện bên cạnh ta.
Tỳ khưu ni Khemā và Uppalavaṇṇā
là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu.
Citta và Haṭṭhāḷavaka
là (hai) nam cư sĩ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Nandamātā và Uttarā
là (hai) nữ cư sĩ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Ta đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng
ở cội cây Assattha.
Ánh sáng hào quang của ta luôn luôn
vươn cao mười sáu cánh tay (8 mét).
Vào thời hiện tại của ta lúc bấy giờ,
tuổi thọ được biết là ít ỏi (chỉ) một trăm năm.
Trong khi tồn tại đến chừng ấy,
ta đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Sau khi thiết lập ngọn đuốc Chánh Pháp
và sự giác ngộ cho chúng sanh sau này,
cũng chẳng bao lâu nữa
ta cùng với hội chúng Thinh Văn
sẽ Viên Tịch Niết Bàn ở ngay tại nơi này,
như là ngọn lửa cạn nguồn nhiên liệu.
Các oai lực vô song ấy,1
mười lực và các thần thông này,
và đây là cơ thể chứa đựng các đức hạnh
được tô điểm với ba hai tướng trạng cao quý.
Sau khi chiếu sáng khắp mười phương
tợ như mặt trời với các hào quang sáu loại,
tất cả sẽ hoàn toàn biết mất;
phải chăng tất cả các hành là trống không?

Nghĩa là

Nay ta là đấng Toàn Giác, Gotama, niềm vinh hiển của dòng họ Sākya (Thích-ca), sau khi ra sức nỗ lực, ta đã đạt được quả vị Toàn Giác tối thượng. Được Phạm Thiên thỉnh mời, ta đã chuyển bánh xe Chánh Pháp. của mười tám koṭi vị, đã có lần lãnh hội thứ nhất. Sau đó vào dịp khác, trong khi thuyết giảng ở cuộc tụ hội của loài người và chư thiên, không thể nói được bằng cách tính đếm, đã có lần lãnh hội thứ nhì. Ngay tại nơi đây, trong thời hiện tại, ta đã giáo giới người con trai của ta không thể nói được bằng cách tính đếm; đã có lần lãnh hội thứ ba. Ta đã có một lần tụ hội gồm các vị Thanh Văn, bậc đại ẩn sĩ. của một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỷ-kheo, đã có cuộc hội tụ. Sáng chói, không ô nhiễm, ở giữa hội chúng Tỷ-kheo, ta ban phát tất cả những điều được mong mỏi, như ngọc ma-ni ban cho mọi điều ước muốn. Vì lòng thương xót chúng sinh (Pāli đặt mệnh đề này ở cuối kệ), ta đã giảng giải bốn Chân Lý đến những người tầm cầu dứt bỏ ước muốn tái sinh và đang ước ao Thánh Quả. Của mười ngàn và hai mươi ngàn vị, đã có sự lãnh hội Giáo Pháp. Sự lãnh hội của một hoặc hai người là không thể đếm được. được truyền rộng, nhiều người biết đến, có kết quả, phong phú, nở rộ như hoa, Ở đây, giáo lý của ta, bậc Hiền Triết dòng Sākya, đã được khéo thanh lọc. Không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm thanh tịnh, định tĩnh; hàng trăm vị Tỷ-kheo, tất cả luôn quây quần xung quanh ta. Giờ đây, trong thời hiện tại, những vị buông bỏ sự tái sinh trong cõi người (nhưng) tâm ý chưa đạt (chữ số “2” lạc trong câu là dấu cước chú của bản dịch), vẫn là các bậc Hữu Học, những vị Tỷ-kheo ấy bị bậc trí chê trách. Những người ca ngợi đạo lộ của các bậc Thánh, luôn thỏa thích trong Giáo Pháp, có chánh niệm, sẽ được giác ngộ dù còn trôi theo dòng chảy luân hồi. Thành phố của ta là Kapilavatthu, người cha là đức vua Suddhodana, người mẹ sinh ra ta gọi là Hoàng Hậu Māyā. Trong hai mươi chín năm, ta đã sống đời gia đình. Ramma, Suramma, Subhaka, là ba tòa lâu đài tuyệt vời. Có bốn mươi ngàn phụ nữ được trang điểm. Người vợ tên là Bhaddakaccānā (Pāli của chương này viết: Bhaddakañcanā). Con trai tên là Rāhula. Thấy bốn điềm báo, ta đã ra đi bằng phương tiện ngựa và thực hành hạnh nỗ lực trong sáu năm, là việc khó làm được. Tại Isipatana, thành Bārāṇasī, bánh xe Chánh Pháp đã được ta chuyển vận; Ta là bậc Toàn Giác Gotama, và là nơi nương tựa của tất cả chúng sinh. Hai vị Tỷ-kheo Kolita và Upatissa là hai vị Thanh Văn đứng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda luôn ở bên cạnh ta. Tỷ-kheo-ni Khemā và Uppalavaṇṇā là hai vị nữ Thanh Văn đứng đầu. Citta và Haṭṭhāḷavaka là hai nam cư sĩ thí chủ hộ độ đứng đầu. Nandamātā và Uttarā là hai nữ cư sĩ thí chủ hộ độ đứng đầu. Ta ở cội cây Assattha, ta đã đạt được quả vị Toàn Giác tối thượng. Ánh sáng hào quang của ta luôn luôn vươn cao mười sáu cánh tay. Vào thời hiện tại của ta lúc bấy giờ (Pāli đặt “hiện tại” ở mệnh đề thứ hai của kệ) tuổi thọ được biết là ít ỏi, chỉ một trăm năm. Sống đến chừng ấy, ta đưa nhiều chúng sinh vượt qua (bờ mê). Sau khi thiết lập ngọn đuốc Chánh Pháp và sự giác ngộ cho chúng sinh đời sau, chẳng bao lâu nữa, ta cùng với hội chúng Thanh Văn sẽ nhập Niết-bàn ngay tại nơi này, như ngọn lửa cạn nguồn nhiên liệu. Các oai lực vô song ấy (chữ số “1” lạc trong đoạn là dấu cước chú của bản dịch), mười lực và các thần thông này, và đây là thân thể chứa đựng các đức hạnh, được tô điểm với ba mươi hai tướng quý. Sau khi chiếu sáng khắp mười phương như mặt trời với các hào quang sáu loại, tất cả sẽ hoàn toàn biến mất (bản dịch ghi “biết mất”); phải chăng tất cả các hành là trống không?”

Hết phần thứ hai mươi lăm: lịch sử đức Phật Gotama.