Lịch Sử Đức Phật Kassapa
Chương kể về đức Phật Kassapa, vị Phật cuối cùng trước đức Gotama trong kiếp hiền: thời của Ngài, Bồ-tát là thanh niên Bà-la-môn Jotipāla, thông thạo ba bộ Vệ Đà; người bạn thợ gốm Ghaṭīkāra dẫn chàng đến gặp Phật, chàng xuất gia, học trọn chín thể loại Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng và được thọ ký. Trước khi nhập Niết-bàn, đức Kassapa ban cho chúng sinh cả một kho trang sức Chánh Pháp: hồ nước Pháp, gương Pháp không tỳ vết, áo giáp Giới, khiên Thiền, gươm Pháp, lọng trắng Diệu Pháp; ngôi tháp của Ngài cao một do-tuần tại tu viện Setavyā.
Điểm thực hànhJotipāla học trọn toàn bộ Giáo Pháp chín thể loại của đức Kassapa rồi làm rạng rỡ giáo pháp ấy — học cho thấu suốt cả hệ thống, không học từng mảng rời rạc.
Phật Sử Lịch Sử Đức Phật Kassapa
tên Kassapa
là vị Pháp Vương
tỏa sáng hào quang.
Vị ấy sau khi biếu tặng vật thí là tài sản gia đình đã được xả bỏ
và nhiều cơm ăn nước uống
đến những người ăn xin
và làm tròn đủ tâm ý, vị ấy đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng,
ví như con bò mộng
đã (được tự do sau khi) phá vỡ chuồng trại.
Trong khi đấng Lãnh Đạo Thế Gian Kassapa
đang chuyển vận bánh xe Chánh Pháp,
đã có sự lãnh hội lần thứ nhất
là của hai mươi ngàn koṭi (hai trăm tỷ) vị.
Vào lúc đức Phật
đi du hành ở thế gian trong bốn tháng,
đã có sự lãnh hội lần thứ nhì
là của mười ngàn koṭi (một trăm tỷ) vị.
Sau khi đã thể hiện sự biến hóa song thông,
vị ấy đã giảng giải về bản thể của trí tuệ;
đã có sự lãnh hội lần thứ ba
là của năm ngàn koṭi (năm mươi tỷ) vị.
Ở tại thành phố của chư thiên Sudhammā xinh xắn,
đấng Chiến Thắng đã giảng giải Giáo Pháp ở tại nơi ấy
và đã giác ngộ ba ngàn koṭi (ba mươi tỷ)
chư thiên.
Trong lần thuyết giảng Giáo Pháp khác
cho dạ-xoa Naradeva,
sự lãnh hội của những người ấy
là không thể đếm được theo cách thức tính toán.
Vị Thiên Nhân ấy của chư thiên
đã có chỉ một lần hội tụ
gồm các bậc Lậu Tận không còn ô nhiễm,
có tâm thanh tịnh như thế ấy.
Khi ấy, đã có cuộc hội tụ
của hai mươi ngàn vị tỳ khưu
là những vị đã vượt qua tham ái bằng sự hổ thẹn (tội lỗi) và giới hạnh
như thế ấy.
Vào lúc bấy giờ, ta là thanh niên Bà-la-môn
nổi tiếng với tên Jotipāla,
là người trì tụng, nắm vững chú thuật,
thành thạo ba bộ Vệ Đà.
Ta đã đạt đến sự toàn hảo về khoa tướng mạo,
về truyền thuyết, và về các phận sự chánh yếu,
là vị rành rẽ về trời đất,
có trí tuệ đã được hoàn tất, thuần thục.
Vị hộ độ của đức Thế Tôn Kassapa
tên Ghaṭikāra (thợ làm đồ gốm),
là người có sự tôn kính, có sự vâng lời,
đã đạt Niết Bàn trong quả vị thứ ba (Bất Lai).
Ghaṭikāra đã đưa ta
đi đến gặp đấng Chiến Thắng Kassapa.
Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của vị ấy,
ta đã xuất gia trong sự chứng minh của vị ấy.
Sau khi đã khởi sự tinh cần
và là người thông thạo trong các phận sự lớn nhỏ,
ta không bỏ sót bất cứ điều gì
và làm tròn đủ Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.
Cho đến những gì đã được đức Phật nói lên
tức là Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng gồm chín thể loại,
sau khi học tập toàn bộ
ta đã làm rạng rỡ Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.
Sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu ở nơi ta,
đức Phật ấy cũng đã chú nguyện rằng:
“Trong kiếp Bhadda này,
người này sẽ trở thành vị Phật.
Sau khi rời khỏi
(thành phố) xinh đẹp tên là Kapila,
đức Như Lai ra sức nỗ lực
và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).
Sau khi ngồi xuống
ở cội cây của những người chăn dê,
đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy
rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).
Ở tại bờ sông Nerañjarā,
(đức Như Lai) thọ thực món cơm sữa
rồi đi đến cội cây Bồ Đề
bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.
Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề,
bậc Vô Thượng Nhân,
vị có danh tiếng vĩ đại,
sẽ ngồi xuống vào tư thế kiết già
và sẽ được giác ngộ ở chỗ ngồi giác ngộ tối thắng
trong vị thế bất bại.
Người mẹ sanh ra vị này
sẽ có tên là Māyā.
Người cha tên là Suddhodana.
Vị này sẽ là Gotama.
Kolita và Upatissa
không còn lậu hoặc,
tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh
sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu.
Vị thị giả tên là Ānanda
sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng này.
Khemā và Uppalavaṇṇā
không còn lậu hoặc,
tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh
sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu.
Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy
được gọi tên là ‘Assattha.’
Citta và Haṭṭhāḷavaka
sẽ là (hai) nam thí chủ hộ độ hàng đầu.
Uttarā và Nandamātā
sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”
Sau khi nghe được lời nói này
của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng,
chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng):
“Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Họ thốt lên những tiếng reo hò,
vỗ tay, và nở nụ cười.
Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên
chắp tay cúi lạy (nói rằng):
“Nếu chúng tôi thất bại
với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này
thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia
trong tương lai xa vời.
Giống như những người đang băng ngang giòng sông
không đạt được bến bờ đối diện,
họ vượt qua giòng sông rộng lớn
sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Tương tợ y như thế,
nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này
thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia
trong tương lai xa vời.”
Sau khi nghe được lời nói của vị ấy,
ta đã tăng thêm niềm tín tâm.
Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng
để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Như thế, sau khi đã trôi nổi (luân hồi)
và trong khi tránh xa điều sai trái,
ta có điều khó thực hành được đã được thực hành,
và nguyên nhân chính là vì quả vị Giác Ngộ của ta.
Thành phố có tên là Bārāṇasī,
vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Kikī.
Tại nơi ấy, gia tộc vĩ đại của đấng Toàn Giác
cư ngụ ở trong thành phố.
Và vị Bà-la-môn Brahmadatta ấy
đã là người cha của đức Phật.
Người mẹ của bậc Đại Ẩn Sĩ Kassapa
tên là Dhanavatī.
Vị ấy đã sống ở giữa gia đình
hai ngàn năm.
Có ba tòa lâu đài tuyệt vời
là Haṁsa, Yasa, và Sirinanda.
Có ba lần mười sáu ngàn (bốn mươi tám ngàn)
phụ nữ được trang điểm.
Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Sunandā.
Con trai tên là Vijitasena.
Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu,
bậc Tối Thượng Nhân đã ra đi bằng tòa lâu đài
và đã thực hành hạnh nỗ lực
bảy ngày.
Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu,
vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân Kassapa
đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp)
ở tại Migadāya (vườn nai).
Tissa và Bhāradvāja
đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu.
Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Kassapa
tên là Sabbamitta.
Anulā và Uruvelā
đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu.
Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy
được gọi là “Nigrodha.”
Sumaṅgala và Ghaṭīkāra
đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu.
Vijitasenā và Bhaddā
đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Đạt đến chiều cao hai mươi ratana
(5 mét),
đức Phật ấy tương tợ như lằn tia chớp ở trên bầu trời,
như là mặt trăng được tròn đầy bởi quầng ánh sáng.
Tuổi thọ của bậc Đại Ẩn Sĩ ấy
là hai chục ngàn năm.
Trong khi tồn tại đến chừng ấy,
vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Sau khi đã tạo ra hồ nước Chánh Pháp,
đã ban hành dầu thơm giới (đức),
đã mặc vào tấm vải Chánh Pháp,
đã phân phối tràng hoa Chánh Pháp,
sau khi đã thiết lập cho đại chúng tấm gương Giáo Pháp không tỳ vết,
(vị ấy đã nói rằng):
“Những ai mong mỏi Niết Bàn,
hãy nhìn vào vật trang sức của ta.”
Sau khi đã ban cho tấm áo giáp là Giới
có tấm da chắn bảo vệ là Thiền phủ lên,
sau khi đã trùm lên tấm da Giáo Pháp (là Niệm và Tỉnh Giác),
sau khi đã ban cho tấm chiến bào tối thắng (là Tứ Chánh Cần).
Sau khi đã ban cho tấm mộc che là Niệm,
cây thương là Trí Tuệ sắc bén,
sau khi đã ban cho cây gươm cao quý là Giáo Pháp
và Giới nhằm mục đích trừ diệt sự gắn liền (với các phiền não).
Sau khi đã ban cho vật tô điểm là ba Minh,
vòng nguyệt quế là bốn Quả Vị,
sau khi đã ban cho vật trang sức là sáu Thắng Trí
và tràng hoa Giáo Pháp (là chín Pháp Siêu Thế).
Sau khi đã ban cho chiếc lọng trắng Diệu Pháp
ngăn chặn các điều sai trái,
sau khi làm hiện ra bông hoa Vô Úy,
vị ấy đã Niết Bàn cùng với các Thinh Văn.
Chính vị này là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác
không thể đo lường, khó thể đạt đến.
Đây chính là Pháp Bảo
đã khéo được thuyết giảng, hãy đến và thấy.
Đây chính là Tăng Bảo
đã thực hành đúng đắn và vô thượng;
tất cả đều hoàn toàn biết mất;
phải chăng tất cả các hành là trống không?
Bậc Đạo Sư, đấng Chiến Thắng cao quý Mahākassapa,
đã Niết Bàn tại tu viện Setavyā.
Ngôi bảo tháp của đấng Chiến Thắng dành cho vị ấy
đã được dựng lên có chiều cao một do-tuần ở ngay tại nơi ấy.
Nghĩa là
Sau đức Phật Koṇāgamana, có bậc Toàn Giác, đấng Tối Thượng Nhân, bậc Chánh Đẳng Giác, đấng Tối Thượng của loài hai chân, tên là Kassapa theo dòng họ, vị Pháp Vương tỏa sáng hào quang. Sau khi xả bỏ tài sản gia đình, vốn là gốc rễ của gia tộc, và nhiều cơm ăn nước uống, biếu tặng vật thí đến những người ăn xin, và làm tròn đủ tâm ý, như con bò mộng đã phá vỡ chuồng trại (rồi đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng). Trong khi đấng Lãnh Đạo Thế Gian Kassapa đang chuyển bánh xe Chánh Pháp, là của hai mươi ngàn koṭi vị (số chua trong ngoặc của bản dịch chưa khớp). đã có lần lãnh hội thứ nhất Khi đức Phật đi du hành ở thế gian trong bốn tháng, là của mười ngàn koṭi vị (số chua trong ngoặc của bản dịch chưa khớp). đã có lần lãnh hội thứ nhì Sau khi thể hiện thần thông song đôi, Ngài giảng giải về bản thể của trí tuệ; là của năm ngàn koṭi vị (số chua trong ngoặc của bản dịch chưa khớp). đã có lần lãnh hội thứ ba Tại hội trường Sudhammā xinh đẹp ở thành phố của chư thiên, đấng Chiến Thắng giảng giải Giáo Pháp tại nơi ấy và giác ngộ ba ngàn koṭi chư thiên (số chua trong ngoặc của bản dịch chưa khớp). cho Dạ-xoa Naradeva, trong một lần thuyết giảng Giáo Pháp khác, sự lãnh hội của những người ấy là không thể đếm được. Vị Thiên Nhân ấy của chư thiên đã có chỉ một lần hội tụ gồm các bậc đã hết lậu hoặc, không còn ô nhiễm, có tâm thanh tịnh như thế ấy. của hai mươi ngàn vị Tỷ-kheo, Khi ấy, đã có cuộc hội tụ những vị đã vượt đến bờ cuối của sự hiện hữu, có lòng hổ thẹn và giới hạnh (bản dịch diễn đạt khác), như thế ấy. Vào lúc bấy giờ, ta là thanh niên Bà-la-môn nổi tiếng với tên Jotipāla, người trì tụng, nắm vững chú thuật, thành thạo ba bộ Vệ Đà. Ta đạt đến sự toàn hảo về khoa tướng số, về truyền thuyết và về phận sự (nghi lễ), rành rẽ về đất và trời (địa lý và thiên văn), trí tuệ đã hoàn tất, thuần thục. Vị hộ độ của đức Thế Tôn Kassapa tên Ghaṭīkāra (thợ làm đồ gốm), người có lòng tôn kính, biết vâng phục, đã đắc quả vị thứ ba (Bất Lai; bản dịch ghi “đạt Niết-bàn trong quả vị thứ ba”). Ghaṭīkāra đã đưa ta đi đến gặp đấng Chiến Thắng Kassapa. Nghe Giáo Pháp của vị ấy, ta xuất gia trong sự hiện diện của vị ấy. Sau khi khởi sự tinh tấn, thông thạo các phận sự lớn nhỏ, ta không bỏ sót điều gì, làm tròn đủ Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Cho đến những gì đức Phật đã nói, tức Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng gồm chín thể loại, sau khi học tập toàn bộ, ta đã làm rạng rỡ Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Thấy điều kỳ diệu nơi ta, đức Phật ấy cũng thọ ký rằng: “Trong kiếp hiền (Bhadda) này, người này sẽ trở thành vị Phật. Có thành phố xinh đẹp đức Như Lai rời thành ra đi, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó làm được (khổ hạnh). ở cội cây của những người chăn dê, Sau khi ngồi xuống đức Như Lai nhận món cơm sữa tại nơi ấy rồi đi đến sông Nerañjarā (Ni-liên-thiền). Ở bờ sông Nerañjarā, đức Như Lai thọ thực món cơm sữa bằng con đường cao quý đã được dọn sẵn. rồi đi đến cội cây Bồ Đề Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề, bậc Vô Thượng Nhân, Tại vị thế bất bại, ở tòa Bồ Đề tối thắng, sau khi ngồi xuống vào tư thế kiết già, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ. Người mẹ sinh ra vị này sẽ tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama. Không còn lậu hoặc, hết tham ái, có tâm an tịnh và định tĩnh; Kolita và Upatissa sẽ là hai vị Thanh Văn đứng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng này. Khemā và Uppalavaṇṇā (tên hai vị được bản dịch nêu trước; Pāli nêu các phẩm tính trước) sẽ là hai vị nữ Thanh Văn đứng đầu; không còn lậu hoặc, có tâm an tịnh, hết tham ái và định tĩnh. Cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là “Assattha.” Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là hai nam thí chủ hộ độ đứng đầu. Uttarā và Nandamātā (Pāli thứ tự: Nandamātā trước, Uttarā sau) sẽ là hai nữ thí chủ hộ độ đứng đầu.” Nghe lời nói này của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng): “Vị này là hạt giống của chư Phật.” Họ thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay và nở nụ cười. chắp tay cúi lạy (nói rằng): Mười ngàn thế giới cùng chư thiên “Nếu chúng tôi lỡ mất đấng Lãnh Đạo Thế Gian này, thất bại với giáo pháp của Ngài; trong tương lai xa, thì chúng tôi sẽ gặp mặt vị kia.” Như những người đang qua sông không đạt được bến bờ đối diện, sau khi nắm lấy bến bờ ở phía dưới. họ vượt qua dòng sông rộng lớn Cũng như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này trong tương lai xa.” thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia Sau khi nghe lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tin. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ mười pháp toàn hảo. Như thế, sau khi trôi nổi trong luân hồi và tránh xa điều sai trái, việc khó làm đã được ta làm, chỉ vì quả vị Giác Ngộ của ta. Thành phố tên là Bārāṇasī, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Kikī. Cư ngụ ở trong thành phố ấy là gia tộc vĩ đại của đấng Toàn Giác. Vị Bà-la-môn Brahmadatta đã là người cha của đức Phật. Người mẹ tên là Dhanavatī của bậc Đại Ẩn Sĩ Kassapa. hai ngàn năm. Vị ấy đã sống giữa gia đình Haṁsa, Yasa và Sirinanda, là ba tòa lâu đài tuyệt vời. Có ba lần mười sáu ngàn (bốn mươi tám ngàn) phụ nữ được trang điểm. Người vợ tên là Sunandā. Con trai tên là Vijitasena. Thấy bốn điềm báo, bậc Tối Thượng Nhân đã ra đi bằng tòa lâu đài (cung điện) Trong bảy ngày thực hành hạnh nỗ lực, bậc Tối Thượng Nhân đã thực hành. Được Phạm Thiên thỉnh mời, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân Kassapa, đã chuyển bánh xe Chánh Pháp ở tại Migadāya (vườn nai). Tissa và Bhāradvāja là hai vị Thanh Văn đứng đầu. Vị thị giả tên là Sabbamitta của bậc Đại Ẩn Sĩ Kassapa. Anulā và Uruvelā (Pāli viết: Anuḷā, Uruvelā) là hai vị nữ Thanh Văn đứng đầu. Cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là “Nigrodha.” Sumaṅgala và Ghaṭīkāra là hai thí chủ hộ độ đứng đầu. Vijitasenā và Bhaddā (Pāli viết: Vicitasenā) là hai nữ thí chủ hộ độ đứng đầu. Đạt đến chiều cao hai mươi ratana (bản dịch chua: 5 mét), Đức Phật ấy như tia chớp trên bầu trời, như mặt trăng tròn đầy giữa quầng sao (Pāli: được các hành tinh vây quanh). là hai mươi ngàn năm. Tuổi thọ của bậc Đại Ẩn Sĩ ấy Sống đến chừng ấy, vị ấy đưa nhiều chúng sinh vượt qua (bờ mê). Sau khi tạo ra hồ nước Chánh Pháp, đã ban dầu thơm là Giới, đã mặc vào tấm vải Chánh Pháp, đã phân phối tràng hoa Chánh Pháp, Sau khi thiết lập cho đại chúng tấm gương Giáo Pháp không tỳ vết, (vị ấy đã nói rằng): “Những ai mong mỏi Niết-bàn, hãy nhìn vào vật trang sức của ta.” Sau khi ban cho tấm áo giáp là Giới có khiên bảo vệ là Thiền phủ lên (Pāli: được bọc giáp bằng Thiền), sau khi trùm lên tấm da Giáo Pháp (bản dịch chua thêm: là Niệm và Tỉnh Giác), sau khi ban cho chiến bào tối thắng (bản dịch chua thêm: là Tứ Chánh Cần). Sau khi ban cho khiên là Niệm, cây thương là Trí Tuệ sắc bén, sau khi ban cho thanh gươm cao quý là Giáo Pháp và Giới để nghiền nát sự dính mắc (bản dịch diễn đạt khác). Sau khi ban cho vật tô điểm là ba Minh, vòng nguyệt quế là bốn Quả Vị, sau khi ban cho vật trang sức là sáu Thắng Trí và tràng hoa Giáo Pháp (bản dịch chua thêm: là chín Pháp Siêu Thế). Sau khi ban cho chiếc lọng trắng Diệu Pháp ngăn chặn các điều sai trái, sau khi làm hiện ra bông hoa Vô Úy, Ngài đã nhập Niết-bàn cùng với các vị Thanh Văn. Chính vị này là bậc Chánh Đẳng Giác không thể đo lường, khó đạt đến. Đây chính là Pháp Bảo đã khéo được thuyết giảng, hãy đến và thấy. Đây chính là Tăng Bảo đã thực hành đúng đắn và vô thượng; tất cả đều hoàn toàn biến mất (bản dịch ghi “biết mất”); phải chăng tất cả các hành là trống không? Bậc Đạo Sư, đấng Chiến Thắng cao quý Mahākassapa, nhập Niết-bàn tại tu viện Setavyā. Ngôi tháp của đấng Chiến Thắng dành cho vị ấy được dựng lên cao một do-tuần ngay tại nơi ấy.”
Hết phần thứ hai mươi bốn: lịch sử đức Phật Kassapa.