Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Tiểu Bộ › Lịch Sử Đức Phật Koṇāgamana

Lịch Sử Đức Phật Koṇāgamana

25. Koṇāgamanabuddhavaṁsa · BV25 · 118 đoạn

Chương kể về đức Phật Koṇāgamana, vị Phật thứ hai của kiếp hiền: Ngài an cư mùa mưa tại cõi trời trên tảng đá Paṇḍukambala, giảng bảy bộ sách cho chư thiên; thời của Ngài, Bồ-tát là vua Pabbata, đã dâng vải quý các xứ và đôi dép vàng cho bậc Đạo Sư cùng các vị Thanh Văn, được thọ ký sẽ thành Phật ngay trong kiếp hiền này, rồi bỏ vương quốc xuất gia. Ngài cao ba mươi cánh tay, tuổi thọ ba mươi ngàn năm, xá-lợi được phân tán khắp nơi từ tu viện Pabbata.

Điểm thực hành

Vua Pabbata dâng những tấm vải tốt nhất của nhiều xứ và đôi dép vàng cho cả bậc Đạo Sư lẫn các vị Thanh Văn — cúng dường không phân biệt ngôi thứ, dâng điều tốt nhất cho mọi bậc đáng kính.

Phật Sử Lịch Sử Đức Phật Koṇāgamana

Sau (đức Phật) Kakusandha, có đấng Toàn Giác, bậc Tối Thượng Nhân,
đấng Chiến Thắng, vị đứng đầu thế gian,
bậc Nhân Ngưu
tên là Koṇāgamana.
Sau khi làm tròn đủ mười pháp,
vị ấy đã vượt qua bãi sa mạc (luân hồi).
Sau khi tẩy rửa mọi điều nhơ bẩn,
vị ấy đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.
Trong khi vị Lãnh Đạo Koṇāgamana
đang chuyển vận bánh xe Chánh Pháp,
đã có sự lãnh hội lần thứ nhất
là của ba mươi ngàn koṭi (ba trăm tỷ) vị.
Và trong khi thể hiện thần thông
trừ diệt các học thuyết khác,
đã có sự lãnh hội lần thứ nhì
là của hai mươi ngàn koṭi (hai trăm tỷ) vị.
Kế đến, sau khi thể hiện sự biến hóa (thần thông),
đấng Chiến Thắng đã đi đến thành phố của chư thiên.
Tại nơi ấy, bậc Toàn Giác đã ngự
trên tảng đá là ngai vàng của vị Chúa Trời Sakka.
Bậc Hiền Triết ấy an cư mùa mưa (ở cõi trời),
trong khi thuyết giảng bảy bộ sách (Vi Diệu Pháp),
đã có sự lãnh hội lần thứ ba
là của mười ngàn koṭi (một trăm tỷ) vị.
Vị Thiên Nhân ấy của chư thiên
đã có chỉ một lần hội tụ
gồm các bậc Lậu Tận không còn ô nhiễm,
có tâm thanh tịnh như thế ấy.
Khi ấy, đã có cuộc hội tụ
của ba mươi ngàn vị tỳ khưu
đã vượt qua khỏi giòng nước lũ
và đã làm tiêu tán sự tử vong.
Vào lúc bấy giờ, ta là vị Sát-đế-lỵ
tên Pabbata
hội đủ các thân hữu và quan viên,
có binh lực và xe cộ không phải là ít.
Sau khi đã đi đến diện kiến đấng Toàn Giác
và lắng nghe Giáo Pháp tối thượng,
ta đã thỉnh mời hội chúng cùng với đấng Chiến Thắng
và đã dâng cúng vật thí theo như ước muốn.
Ta đã cúng dường bậc Đạo Sư và các vị Thinh Văn
vải xứ Pattuṇṇa,
vải Trung Quốc, tơ lụa xứ Kāsī, cùng với mền len,
và luôn cả đôi dép bằng vàng nữa.
Bậc Hiền Triết ấy, ngồi giữa hội chúng,
cũng đã chú nguyện cho ta rằng:
“Trong kiếp Bhadda này,
người này sẽ trở thành vị Phật.
Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila,

Nghĩa là

Sau đức Phật Kakusandha, có đấng Toàn Giác, bậc Tối Thượng Nhân, đấng Chiến Thắng, tên là Koṇāgamana, vị đứng đầu thế gian, bậc Nhân Ngưu. Sau khi làm tròn đủ mười pháp, vị ấy đã vượt qua bãi sa mạc (luân hồi). Sau khi tẩy rửa mọi điều nhơ bẩn, vị ấy đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng. Khi bánh xe Chánh Pháp đang được chuyển vận, bởi vị Lãnh Đạo Koṇāgamana, là của ba mươi ngàn koṭi vị (số chua trong ngoặc của bản dịch chưa khớp). đã có lần lãnh hội thứ nhất Trong khi thể hiện thần thông trừ diệt các học thuyết khác (đập tan các luận thuyết đối lập), là của hai mươi ngàn koṭi vị (số chua trong ngoặc của bản dịch chưa khớp). đã có lần lãnh hội thứ nhì Kế đến, sau khi thể hiện sự biến hóa (thần thông), đấng Chiến Thắng đã đi đến thành phố của chư thiên. Tại nơi ấy, bậc Toàn Giác đã ngự trên tảng đá Paṇḍukambala, ngai vàng của Chúa Trời Sakka. trong khi thuyết giảng bảy bộ sách (Vi Diệu Pháp), Bậc Hiền Triết ấy an cư mùa mưa (ở cõi trời), là của mười ngàn koṭi vị (số chua trong ngoặc của bản dịch chưa khớp). đã có lần lãnh hội thứ ba Vị Thiên Nhân ấy của chư thiên đã có chỉ một lần hội tụ gồm các bậc đã hết lậu hoặc, không còn ô nhiễm, có tâm thanh tịnh như thế ấy. của ba mươi ngàn vị Tỷ-kheo Khi ấy, đã có cuộc hội tụ đã vượt qua khỏi dòng nước lũ (bộc lưu) và đã làm tiêu tan sự chết. Vào lúc bấy giờ, ta là vị Sát-đế-lỵ tên Pabbata, hội đủ các thân hữu và quan viên, có binh lực và xe cộ vô số (bản dịch ghi “không phải là ít”). Sau khi đã đi đến diện kiến đấng Toàn Giác và lắng nghe Giáo Pháp tối thượng, ta đã thỉnh mời hội chúng cùng với đấng Chiến Thắng và đã dâng cúng vật thí theo như ước muốn. vải Pattuṇṇa và vải Trung Quốc, tơ lụa Kāsī và mền len, và luôn cả đôi dép bằng vàng, ta đã cúng dường cho các Thanh Văn của bậc Đạo Sư. cũng thọ ký cho ta rằng: Bậc Hiền Triết ấy, ngồi giữa hội chúng, “Trong kiếp hiền (Bhadda) này, người này sẽ trở thành vị Phật. (Có thành phố) xinh đẹp tên là Kapila,

(Bản Pāli rút gọn toàn bộ phần còn lại của lời thọ ký bằng dấu lược: sau khi rời thành Kapila, đức Như Lai nỗ lực khổ hạnh, nhận cơm sữa, đến sông Nerañjarā, giác ngộ tại cây Assattha; mẹ tên Māyā, cha tên Suddhodana, hai vị Thanh Văn đứng đầu là Kolita và Upatissa, vị thị giả là Ānanda, hai vị nữ Thanh Văn đứng đầu là Khemā và Uppalavaṇṇā, hai nam thí chủ hộ độ đứng đầu là Citta và Haṭṭhāḷavaka, hai nữ thí chủ hộ độ đứng đầu là Nandamātā và Uttarā, tuổi thọ là một trăm năm. Nghe lời thọ ký ấy, chư thiên và nhân loại hoan hỷ, ví như người qua sông hụt bến trên thì nắm lấy bến dưới mà sang được sông lớn.)

thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Sau khi nghe được lời nói của vị ấy,
ta đã tăng thêm niềm tín tâm.
Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng
để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Trong khi tầm cầu quả vị Toàn Tri,
ta đã cúng dường vật thí đến đấng Tối Thượng Nhân.
Sau khi từ bỏ vương quốc rộng lớn,
ta đã xuất gia trong sự chứng minh của vị ấy.
Thành phố có tên là Sobhavatī,
vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Sobha.
Tại nơi ấy, gia tộc vĩ đại của đấng Toàn Giác
cư ngụ ở trong thành phố.
Và vị Bà-la-môn Yaññadatta ấy
đã là người cha của đức Phật.
Người mẹ của bậc Đạo Sư Koṇāgamana
tên là Uttarā.
Vị ấy đã sống ở giữa gia đình
trong ba ngàn năm.
Có ba tòa lâu đài tuyệt vời
là Tusita, Santusita, và Santuṭṭha.
Có không dưới mười sáu ngàn
phụ nữ được trang điểm.
Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Rucigattā.
Con trai tên là Satthavāha.
Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu,
bậc Tối Thượng Nhân đã ra đi bằng phương tiện voi
và đã thực hành hạnh nỗ lực
sáu tháng.
Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu,
vị Lãnh Đạo, đấng Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân tên Koṇāgamana
đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp)
ở tại Migadāya (vườn nai).
Bhiyyasa và Uttara
đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu.
Vị thị giả của bậc có danh tiếng Koṇāgamana
tên là Sotthija.
Samuddā và Uttarā
đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu.
Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy
được gọi là “Udumbara.”
Ugga và Somadeva
đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu.
Sīvalā và luôn cả Sāmā
đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Đức Phật ấy đạt đến chiều cao ba mươi cánh tay
(15 mét).
Tương tợ như chiếc vòng vàng ở trong lò lửa của thợ rèn,
vị ấy đã rực rỡ với các hào quang như thế ấy.
Tuổi thọ được biết
là đến ba chục ngàn năm.
Trong khi tồn tại đến chừng ấy,
vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Sau khi giương cao ngôi bảo tháp Chánh Pháp
được tô điểm với những biểu ngữ về Chánh Pháp,
vị ấy đã kết thành chùm hoa Chánh Pháp
rồi đã Niết Bàn cùng với các Thinh Văn.
Môn đồ của vị ấy có thần lực vĩ đại,
có sự giảng giải Giáo Pháp huy hoàng,
tất cả đều hoàn toàn biết mất;
phải chăng tất cả các hành là trống không?
Đấng Toàn Giác Koṇāgamana
đã Niết Bàn tại tu viện Pabbata.
Đã có sự phân tán xá-lợi
từ xứ sở ấy đến khắp các nơi.

Nghĩa là

chúng tôi sẽ gặp mặt vị kia.” Sau khi nghe lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tin. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ mười pháp toàn hảo. Trong khi tầm cầu quả vị Toàn Tri, ta đã cúng dường vật thí đến đấng Tối Thượng Nhân. Sau khi từ bỏ vương quốc rộng lớn, ta đã xuất gia trong sự hiện diện của vị ấy. Thành phố tên là Sobhavatī, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Sobha. Cư ngụ ở trong thành phố ấy là gia tộc vĩ đại của đấng Toàn Giác. Vị Bà-la-môn Yaññadatta đã là người cha của đức Phật. Người mẹ tên là Uttarā của bậc Đạo Sư Koṇāgamana. trong ba ngàn năm. Vị ấy đã sống giữa gia đình Tusita, Santusita và Santuṭṭha, là ba tòa lâu đài tuyệt vời. Có không dưới mười sáu ngàn phụ nữ được trang điểm. Người vợ tên là Rucigattā. Con trai tên là Satthavāha. Thấy bốn điềm báo, bậc Tối Thượng Nhân đã ra đi bằng phương tiện voi Trong sáu tháng thực hành hạnh nỗ lực, bậc Tối Thượng Nhân đã thực hành. Được Phạm Thiên thỉnh mời, vị Lãnh Đạo, đấng Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân tên Koṇāgamana, đã chuyển bánh xe Pháp ở tại Migadāya (vườn nai). Bhiyyasa và Uttara là hai vị Thanh Văn đứng đầu. Vị thị giả tên là Sotthija của bậc Đạo Sư Koṇāgamana. Samuddā và Uttarā là hai vị nữ Thanh Văn đứng đầu. Cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là “Udumbara.” Ugga và Somadeva là hai thí chủ hộ độ đứng đầu. Sīvalā và Sāmā là hai nữ thí chủ hộ độ đứng đầu. Đức Phật ấy đạt đến chiều cao ba mươi cánh tay (bản dịch chua: 15 mét). Như chiếc vòng vàng trong lò lửa của thợ rèn, vị ấy đã rực rỡ với các hào quang như thế ấy. là ba mươi ngàn năm. Tuổi thọ được biết Sống đến chừng ấy, vị ấy đưa nhiều chúng sinh vượt qua (bờ mê). Sau khi giương cao ngôi tháp Chánh Pháp được tô điểm với vải Chánh Pháp (bản dịch ghi “biểu ngữ”), vị ấy đã kết thành chùm hoa Chánh Pháp rồi đã nhập Niết-bàn cùng với các vị Thanh Văn. Môn đồ của vị ấy có thần lực vĩ đại, có sự giảng giải Giáo Pháp huy hoàng, tất cả đều hoàn toàn biến mất (bản dịch ghi “biết mất”); phải chăng tất cả các hành là trống không? Đấng Toàn Giác Koṇāgamana nhập Niết-bàn tại tu viện Pabbatā (bản dịch rút gọn thành Pabbata). Đã có sự phân tán xá-lợi từ xứ sở ấy đến khắp các nơi.”

Hết phần thứ hai mươi ba: lịch sử đức Phật Koṇāgamana.