Lịch Sử Đức Phật Kakusandha
Chương kể về đức Phật Kakusandha, vị Phật đầu tiên của kiếp hiền (Bhadda) hiện tại: thời của Ngài, Bồ-tát là vua Khema, đã dâng bình bát, y phục, thuốc bôi và mật mía cùng mọi thứ tốt nhất được mong cầu, được thọ ký sẽ thành Phật ngay trong kiếp này, rồi xuất gia tầm cầu quả vị Toàn Tri. Ngài chỉ có một lần tụ hội duy nhất gồm bốn mươi ngàn vị; thân cao bốn mươi ratana, hào quang vàng tỏa mười do-tuần, tuổi thọ bốn mươi ngàn năm, tháp cao một gāvuta tại tu viện Khemā.
Điểm thực hànhVua Khema dâng cả những thứ nhỏ như thuốc bôi và mật mía, chuẩn bị chu đáo mọi điều được mong cầu — lòng hào phóng chín chắn nằm ở sự chu đáo với nhu cầu thật của người nhận, không chỉ ở món quà lớn.
Phật Sử Lịch Sử Đức Phật Kakusandha
đấng Tối Thượng Nhân
tên Kakusandha
là vị không thể đo lường, khó thể đạt đến.
Sau khi làm tiêu hoại tất cả các sự tái sanh,
vị ấy đã đạt đến sự toàn hảo trong các hạnh,
đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng,
tương tợ như con sư tử (đã được tự do) sau khi bẻ gãy chiếc lồng giam giữ.
Trong khi đấng Lãnh Đạo Thế Gian Kakusandha
đang chuyển vận bánh xe Chánh Pháp,
đã có sự lãnh hội lần thứ nhất
là của bốn mươi ngàn koṭi (bốn trăm tỷ) vị.
Sau khi đã hóa hiện song thông
ở không trung trên bầu trời,
vị ấy đã giác ngộ ba mươi ngàn koṭi (ba trăm tỷ)
chư thiên và nhân loại.
Sự lãnh hội Giáo Pháp của vị ấy
trong lần giảng giải về bốn Chân Lý cho dạ-xoa Naradeva
là không thể đếm được
theo cách thức tính toán.
Đức Thế Tôn Kakusandha
đã có một lần tụ hội
gồm các bậc Lậu Tận không còn ô nhiễm,
có tâm thanh tịnh như thế ấy.
Khi ấy, đã có cuộc hội tụ
của bốn mươi ngàn vị
đã đạt đến nền tảng của việc huấn luyện
nhờ vào sự diệt tận các nhóm kẻ thù là lậu hoặc.
Vào lúc bấy giờ, ta là vị Sát-đế-lỵ
tên Khema.
Ta đã dâng lên vật thí không nhỏ
đến đức Như Lai và những người con trai của đấng Chiến Thắng.
Sau khi cúng dường bình bát, y phục, thuốc bôi,
mật mía,
ta đã chuẩn bị tất cả mọi thứ này nọ vô cùng quý giá
đã được mong mỏi.
Nghĩa là
Sau đức Phật Vessabhū, có bậc Toàn Giác, đấng Tối Thượng Nhân, tên Kakusandha, là vị không thể đo lường, khó đạt đến. Sau khi làm tiêu hoại tất cả các sự tái sinh, vị ấy đã đạt đến sự toàn hảo trong các hạnh, như con sư tử (được tự do) sau khi bẻ gãy chiếc lồng giam giữ. đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng, Trong khi đấng Lãnh Đạo Thế Gian Kakusandha đang chuyển bánh xe Chánh Pháp, là của bốn mươi ngàn koṭi vị (số chua trong ngoặc của bản dịch chưa khớp). đã có lần lãnh hội thứ nhất ở không trung trên bầu trời, Sau khi đã hóa hiện thần thông song đôi vị ấy đã giác ngộ ba mươi ngàn koṭi (số chua trong ngoặc của bản dịch chưa khớp) chư thiên và nhân loại. cho Dạ-xoa Naradeva, trong lần giảng giải về bốn Chân Lý, Sự lãnh hội Giáo Pháp của ngài là vô số, không đếm được. Đức Thế Tôn Kakusandha đã có một lần tụ hội gồm các bậc đã hết lậu hoặc, không còn ô nhiễm, có tâm thanh tịnh như thế ấy. của bốn mươi ngàn vị Khi ấy, đã có cuộc hội tụ đã đạt đến nền tảng của việc huấn luyện (đã thuần hóa), nhờ vào sự diệt tận các lậu hoặc, kẻ thù (của sự giải thoát). Vào lúc bấy giờ, ta là vị Sát-đế-lỵ tên Khema. đến đức Như Lai và những người con của đấng Chiến Thắng. Ta đã dâng lên vật thí không nhỏ Sau khi cúng dường bình bát, y phục, thuốc bôi, mật mía, đã được mong mỏi, ta đã chuẩn bị tất cả mọi thứ vô cùng quý giá.
Đức Phật ấy cũng đã thọ ký cho ta, đức Kakusandha, vị Hướng Đạo: “Trong chính kiếp hiền này, người này sẽ trở thành vị Phật.
Nghĩa là
(Có thành phố) xinh đẹp tên là Kapila,
(Bản Pāli rút gọn toàn bộ phần còn lại của lời thọ ký bằng dấu lược: sau khi rời thành Kapila, đức Như Lai nỗ lực khổ hạnh, nhận cơm sữa, đến sông Nerañjarā, giác ngộ tại cây Assattha; mẹ tên Māyā, cha tên Suddhodana, hai vị Thanh Văn đứng đầu là Kolita và Upatissa, vị thị giả là Ānanda, hai vị nữ Thanh Văn đứng đầu là Khemā và Uppalavaṇṇā, hai nam thí chủ hộ độ đứng đầu là Citta và Haṭṭhāḷavaka, hai nữ thí chủ hộ độ đứng đầu là Nandamātā và Uttarā, tuổi thọ là một trăm năm. Nghe lời thọ ký ấy, chư thiên và nhân loại hoan hỷ, ví như người qua sông hụt bến trên thì nắm lấy bến dưới mà sang được sông lớn.)
Sau khi nghe được lời nói của vị ấy,
ta đã tăng thêm niềm tín tâm.
Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng
để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Thành phố có tên là Khemavatī.
Khi ấy, ta có tên là Khema.
Trong khi tầm cầu quả vị Toàn Tri,
ta đã xuất gia trong sự chứng minh của vị ấy.
Và vị Bà-la-môn Aggidatta ấy
đã là người cha của đức Phật.
Người mẹ của bậc Đại Ẩn Sĩ Kakusandha
tên là Visākhā.
Cư trú tại nơi ấy ở trong thành Khemā,
gia tộc vĩ đại của đấng Toàn Giác
là dòng dõi cao quý hạng nhất trong loài người,
có danh tiếng vĩ đại.
Vị ấy đã sống ở giữa gia đình
trong bốn ngàn năm.
Có ba tòa lâu đài tuyệt vời
là Ruci, Suruci, và Rativaddhana.
Có đầy đủ ba mươi ngàn
phụ nữ được trang điểm.
Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Virocamānā.
Con trai tên là Uttara.
Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu,
đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng phương tiện xe
và đã ra sức nỗ lực
tám tháng không thiếu sót.
Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu,
vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân Kakusandha
đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp)
ở tại Migadāya (vườn nai).
Vidhura và Sañjīva
đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu.
Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Kakusandha
tên là Buddhija.
Sāmā và Campā
đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu.
Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy
được gọi tên là “Sirasa.”
Accuta và Sumana
đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu.
Nandā và luôn cả Sunandā
đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Bậc Đại Hiền Triết cao bốn mươi ratana
(10 mét).
Hào quang màu hoàng kim phát ra
mười do-tuần ở chung quanh.
Tuổi thọ của bậc Đại Ẩn Sĩ ấy
là bốn chục ngàn năm.
Trong khi tồn tại đến chừng ấy,
vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Sau khi đã phô bày gian hàng Giáo Pháp
đến những người nam nữ luôn cả chư thiên,
sau khi rống lên như là tiếng rống của loài sư tử,
vị ấy đã Niết Bàn cùng với các Thinh Văn.
(Đức Phật) đã thành tựu tám chi phần về lời nói,
những phẩm chất không bao giờ khiếm khuyết,
tất cả đều hoàn toàn biết mất;
phải chăng tất cả các hành là trống không?
Đấng Chiến Thắng cao quý Kakusandha
đã Niết Bàn tại tu viện Khemā.
Ngôi bảo tháp cao quý dành cho vị ấy
đã vươn lên bầu trời một gāvuta ở ngay tại nơi ấy.
Nghĩa là
chúng tôi sẽ gặp mặt vị kia.” Sau khi nghe lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tin. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ mười pháp toàn hảo. Thành phố tên là Khemāvatī. Khi ấy, ta có tên là Khema. Trong khi tầm cầu quả vị Toàn Tri, ta đã xuất gia trong sự hiện diện của vị ấy. Vị Bà-la-môn Aggidatta đã là người cha của đức Phật. Người mẹ tên là Visākhā của bậc Đạo Sư Kakusandha. Cư trú tại nơi ấy, trong thành Khemā, gia tộc vĩ đại của đấng Toàn Giác là dòng dõi cao quý hạng nhất trong loài người, có danh tiếng vĩ đại. trong bốn ngàn năm. Vị ấy đã sống giữa gia đình Kāma, Kāmavaṇṇa, Kāmasuddhi (bản dịch ghi lại tên của chương trước: Ruci, Suruci, Rativaddhana). là ba tòa lâu đài tuyệt vời. Có đầy đủ ba mươi ngàn phụ nữ được trang điểm. Người vợ tên là Rocinī (bản dịch ghi Virocamānā). Con trai tên là Uttara. Thấy bốn điềm báo, đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng phương tiện xe Tám tháng không thiếu sót, đấng Chiến Thắng đã ra sức nỗ lực. Được Phạm Thiên thỉnh mời, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân Kakusandha, đã chuyển bánh xe Pháp ở tại Migadāya (vườn nai). Vidhura và Sañjīva là hai vị Thanh Văn đứng đầu. Vị thị giả tên là Buddhija của bậc Đạo Sư Kakusandha. Sāmā và Campā là hai vị nữ Thanh Văn đứng đầu. Cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là “Sirīsa” (bản dịch ghi Sirasa). Accuta và Sumana là hai thí chủ hộ độ đứng đầu. Nandā và Sunandā là hai nữ thí chủ hộ độ đứng đầu. Bậc Đại Hiền Triết cao bốn mươi ratana (bản dịch chua: 10 mét). Hào quang màu hoàng kim phát ra mười do-tuần ở chung quanh. là bốn mươi ngàn năm. Tuổi thọ của bậc Đại Ẩn Sĩ ấy Sống đến chừng ấy, vị ấy đưa nhiều chúng sinh vượt qua (bờ mê). Sau khi đã phô bày gian hàng Chánh Pháp đến những người nam nữ luôn cả chư thiên, sau khi rống lên như tiếng rống của sư tử, vị ấy đã nhập Niết-bàn cùng với các vị Thanh Văn. (Đức Phật) đã thành tựu tám chi phần về lời nói, những phẩm chất không bao giờ khiếm khuyết, tất cả đều hoàn toàn biến mất (bản dịch ghi “biết mất”); phải chăng tất cả các hành là trống không? Đấng Chiến Thắng cao quý Kakusandha nhập Niết-bàn tại tu viện Khemārāma (bản dịch rút gọn thành Khemā). Ngôi tháp cao quý dành cho vị ấy vươn lên bầu trời một gāvuta ngay tại nơi ấy.”
Hết phần thứ hai mươi hai: lịch sử đức Phật Kakusandha.