Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Tiểu Bộ › Lịch Sử Đức Phật Vessabhū

Lịch Sử Đức Phật Vessabhū

23. Vessabhūbuddhavaṁsa · BV23 · 124 đoạn

Chương kể về đức Phật Vessabhū: thời của Ngài, Bồ-tát là vua Sudassana, đã thỉnh mời và cúng dường lớn, nghe Pháp rồi xuất gia, hành trì ngày đêm không lười biếng với đức tin và niềm vui hướng về quả vị giác ngộ, đến mức đức Phật nhận biết tâm ông không còn thối chuyển và thọ ký ông sẽ thành Phật sau ba mươi mốt kiếp. Ngài cao sáu mươi ratana như cột trụ vàng, hào quang như lửa trên núi ban đêm; tuổi thọ sáu mươi ngàn năm và xá-lợi được phân tán khắp nơi từ tu viện Khema.

Điểm thực hành

Bồ-tát Sudassana xuất gia rồi hành trì không ngơi nghỉ, mà động lực là niềm vui lấy chính quả vị giác ngộ làm nguyên nhân — sự tinh tấn bền nhất là sự tinh tấn được nuôi bằng niềm vui nơi mục tiêu.

Phật Sử Lịch Sử Đức Phật Vessabhū

Cũng chính trong kiếp Maṇḍa ấy, đấng Lãnh Đạo
tên Vessabhū ấy,
bậc không ai sánh bằng, không người đối thủ,
đã hiện khởi ở thế gian.
Khi ấy, biết rằng ngọn lửa ái dục đang thiêu đốt thế gian này là căn cứ địa của các ái,
vị ấy sau khi cắt đứt sự trói buộc
đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng,
ví như con long tượng (được tự do) sau khi đã giật đứt xích xiềng.
Trong khi đấng Lãnh Đạo Thế Gian Vessabhū
đang chuyển vận bánh xe Chánh Pháp;
đã có sự lãnh hội lần thứ nhất
là của tám mươi ngàn koṭi (tám trăm tỷ) vị.
Trong khi đấng Hàng Đầu Thế Gian, bậc Nhân Ngưu,
ra đi du hành trong xứ sở,
đã có sự lãnh hội lần thứ nhì
là của bảy mươi ngàn koṭi (bảy trăm tỷ) vị.
Trong khi xua tan tà kiến nghiêm trọng,
vị ấy thể hiện thần thông.
Nhân loại và chư thiên trong mười ngàn thế giới tính luôn các cõi trời
đã hội tụ lại.
Sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu vĩ đại,
phi thường, khiến lông dựng đứng,
sáu mươi koṭi (sáu trăm triệu) chư thiên và luôn cả loài người
đã được giác ngộ.
Bậc Đại Ẩn Sĩ Vessabhū
đã có ba lần tụ hội
gồm các vị Lậu Tận không còn ô nhiễm,
có tâm thanh tịnh như thế ấy.
Đã có cuộc hội tụ thứ nhất
của tám mươi ngàn koṭi vị tỳ khưu.
Đã có cuộc hội tụ thứ nhì
của bảy chục ngàn vị tỳ khưu.
Đã có cuộc hội tụ thứ ba
của sáu chục ngàn vị tỳ khưu
chính thức của bậc Đại Ẩn Sĩ
là các vị đã qua khỏi các sự hãi sợ như sự già,
Vào lúc bấy giờ, ta là vị Sát-đế-lỵ
tên Sudassana.
Sau khi thỉnh mời bậc Đại Hùng
và đã dâng cúng vật thí vô cùng xứng đáng,
ta đã cúng dường đấng Chiến Thắng cùng với hội chúng (tỳ khưu)
cơm nước và y phục.
Bánh xe tối thắng của đức Phật không gì sánh bằng ấy
đã được chuyển vận.
Sau khi lắng nghe Giáo Pháp tuyệt vời,
ta đã thích thú sự xuất gia.
Sau khi đã tiến hành cuộc đại thí
không ngơi nghỉ đêm ngày,
ta đã tiến hành sự xuất gia hội đủ các ưu điểm
trong sự chứng minh của đấng Chiến Thắng.
Được thành tựu sở hành và đức hạnh,
nghiêm túc trong các phận sự và giới hạnh,
trong lúc tầm cầu quả vị Toàn Tri,
ta được thỏa thích trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.
Sau khi đã đạt được niềm tin và sự hoan hỷ,
ta đảnh lễ đức Phật, bậc Đạo Sư.
Niềm hoan hỷ được sanh lên đến ta
có nguyên nhân chính là quả vị giác ngộ.
Biết được tâm ý (của ta) không còn thối chuyển,
đấng Toàn Giác đã nói lên điều này:
“Trong ba mươi mốt kiếp tính từ thời điểm này,
người này sẽ trở thành vị Phật.
Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila,

Nghĩa là

Cũng chính trong kiếp Maṇḍa ấy, không ai sánh bằng, không người đối thủ, tên là Vessabhū, đấng Lãnh Đạo đã xuất hiện ở thế gian. Khi ấy, ngọn lửa tham ái đang thiêu đốt (thế gian), vốn là căn cứ địa của các ái; ví như con long tượng sau khi giật đứt xích xiềng, vị ấy đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng. Khi bánh xe Chánh Pháp đang được chuyển vận, bởi Vessabhū, đấng Lãnh Đạo Thế Gian, là của tám mươi ngàn koṭi vị (số chua trong ngoặc của bản dịch chưa khớp). đã có lần lãnh hội thứ nhất ra đi du hành trong xứ sở, Trong khi đấng Hàng Đầu Thế Gian, bậc Nhân Ngưu, là của bảy mươi ngàn koṭi vị (số chua trong ngoặc của bản dịch chưa khớp). đã có lần lãnh hội thứ nhì Trong khi xua tan tà kiến nghiêm trọng, vị ấy thể hiện thần thông. Nhân loại và chư thiên đã hội tụ lại trong mười ngàn thế giới, tính luôn các cõi trời. Sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu vĩ đại, phi thường, khiến lông dựng đứng, sáu mươi koṭi chư thiên và luôn cả loài người đã được giác ngộ. Có ba lần tụ hội của bậc Đại Ẩn Sĩ Vessabhū. gồm các vị đã hết lậu hoặc, không còn ô nhiễm, có tâm thanh tịnh như thế ấy. của tám mươi ngàn vị Tỷ-kheo (bản dịch thêm chữ koṭi). Đã có lần hội tụ thứ nhất của bảy mươi ngàn vị Tỷ-kheo. Đã có lần hội tụ thứ nhì của sáu mươi ngàn vị Tỷ-kheo, Đã có lần hội tụ thứ ba là các vị đã qua khỏi các nỗi sợ hãi như sự già, vân vân (bản dịch kết thúc bằng chữ “vân vân” viết tắt có dấu chấm, đã cắt bỏ theo quy định). con chính thức của bậc Đại Ẩn Sĩ, Vào lúc bấy giờ, ta là vị Sát-đế-lỵ tên Sudassana. Sau khi thỉnh mời bậc Đại Hùng và đã dâng cúng vật thí vô cùng xứng đáng, bằng cơm nước và y phục. ta đã cúng dường đấng Chiến Thắng cùng với hội chúng (Tỷ-kheo) Của đức Phật không gì sánh bằng ấy, bánh xe tối thắng đã được chuyển vận; Sau khi lắng nghe Giáo Pháp tuyệt vời, ta đã thích thú sự xuất gia. Sau khi đã tiến hành cuộc đại thí không ngơi nghỉ đêm ngày, ta đã thực hiện sự xuất gia hội đủ các ưu điểm trong sự hiện diện của đấng Chiến Thắng. Được thành tựu sở hành và đức hạnh, nghiêm túc trong các phận sự và giới hạnh, trong lúc tầm cầu quả vị Toàn Tri, ta hoan hỷ trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Sau khi đã đạt được niềm tin và sự hoan hỷ, ta đảnh lễ đức Phật, bậc Đạo Sư. Niềm hoan hỷ được sinh lên trong ta có nguyên nhân chính là quả vị giác ngộ. Biết được tâm ý (của ta) không còn thối chuyển, đấng Toàn Giác đã nói lên điều này: “Trong ba mươi mốt kiếp kể từ nay, người này sẽ trở thành vị Phật. (Có thành phố) xinh đẹp tên là Kapila,

(Bản Pāli rút gọn toàn bộ phần còn lại của lời thọ ký bằng dấu lược: sau khi rời thành Kapila, đức Như Lai nỗ lực khổ hạnh, nhận cơm sữa, đến sông Nerañjarā, giác ngộ tại cây Assattha; mẹ tên Māyā, cha tên Suddhodana, hai vị Thanh Văn đứng đầu là Kolita và Upatissa, vị thị giả là Ānanda, hai vị nữ Thanh Văn đứng đầu là Khemā và Uppalavaṇṇā, hai nam thí chủ hộ độ đứng đầu là Citta và Haṭṭhāḷavaka, hai nữ thí chủ hộ độ đứng đầu là Nandamātā và Uttarā, tuổi thọ là một trăm năm. Nghe lời thọ ký ấy, chư thiên và nhân loại hoan hỷ, ví như người qua sông hụt bến trên thì nắm lấy bến dưới mà sang được sông lớn.)

thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Sau khi nghe được lời nói của vị ấy,
ta đã tăng thêm niềm tín tâm.
Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng
để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Thành phố có tên là Anupama,
vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Suppatita,
người mẹ của bậc Đại Ẩn Sĩ Vessabhū
tên là Yasavatī
Vị ấy đã sống ở giữa gia đình
trong sáu ngàn năm.
Có ba tòa lâu đài tuyệt vời
là Ruci, Suruci, và Rativaḍḍhana.
Có không dưới ba mươi ngàn
phụ nữ được trang điểm.
Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Sucittā.
Con trai tên là Suppabuddha.
Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu,
bậc Tối Thượng Nhân đã ra đi bằng kiệu khiêng
và đã thực hành hạnh nỗ lực
sáu tháng.
Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu,
vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân Vessabhū
đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp)
cũng ở tại Aruṇa.
Soṇa và luôn cả Uttara
đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu.
Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Vessabhū
tên là Upasanta.
Dāmā và luôn cả Samālā
đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu.
Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy
được gọi là “Sālā.”
Sotthika và luôn cả Ramma
đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu.
Gotamī và Sirimā
đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Có chiều cao sáu mươi ratana
tương đương với cây cột bằng vàng.
Hào quang phát ra từ cơ thể
giống như là ngọn lửa ở trên ngọn núi vào ban đêm.
Tuổi thọ của vị ấy được biết
là đến sáu chục ngàn năm.
Trong khi tồn tại đến chừng ấy,
vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Sau khi đã hoằng khai Giáo Pháp,
đã phân hạng dân chúng,
và đã thiết lập con thuyền Chánh Pháp,
vị ấy cùng với các Thinh Văn đã Niết Bàn.
Tất cả những người (đức Phật và các vị Thinh Văn),
cách sinh hoạt, lề lối oai nghi đáng được chiêm ngưỡng,
tất cả đều hoàn toàn biết mất;
phải chăng tất cả các hành là trống không?
Đấng Chiến Thắng cao quý, bậc Đạo Sư Vessabhū
đã Niết Bàn tại tu viện Khema.
Đã có sự phân tán xá-lợi
từ xứ sở ấy đến khắp các nơi.

Nghĩa là

chúng tôi sẽ gặp mặt vị kia.” Sau khi nghe lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tin. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ mười pháp toàn hảo. Thành phố tên là Anoma (bản dịch ghi Anupama), vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Suppatīta (bản dịch ghi Suppatita), Người mẹ tên là Yasavatī của bậc Đại Ẩn Sĩ Vessabhū. trong sáu ngàn năm. Vị ấy đã sống giữa gia đình Ruci, Suruci và Rativaḍḍhana, là ba tòa lâu đài tuyệt vời. Có không dưới ba mươi ngàn phụ nữ được trang điểm. Người vợ tên là Sucittā. Con trai tên là Suppabuddha. Thấy bốn điềm báo, bậc Tối Thượng Nhân đã ra đi bằng kiệu khiêng Trong sáu tháng thực hành hạnh nỗ lực, bậc Tối Thượng Nhân đã thực hành. Được Phạm Thiên thỉnh mời, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân Vessabhū, đã chuyển bánh xe Pháp ở tại tu viện Aruṇa (bản dịch thêm chữ “cũng”). Soṇa và Uttara là hai vị Thanh Văn đứng đầu. Vị thị giả tên là Upasanta của bậc Đại Ẩn Sĩ Vessabhū. Rāmā (bản dịch ghi Dāmā) và Samālā là hai vị nữ Thanh Văn đứng đầu. Cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là “Sālā lớn.” Sotthika và Rambha (bản dịch ghi Ramma) là hai thí chủ hộ độ đứng đầu. Gotamī và Sirimā là hai nữ thí chủ hộ độ đứng đầu. Có chiều cao sáu mươi ratana, tương đương với cây cột bằng vàng. Hào quang phát ra từ cơ thể giống như ngọn lửa ở trên ngọn núi vào ban đêm. là sáu mươi ngàn năm. Tuổi thọ của vị ấy được biết Sống đến chừng ấy, vị ấy đưa nhiều chúng sinh vượt qua (bờ mê). Sau khi đã hoằng khai Giáo Pháp, đã phân hạng dân chúng, và đã thiết lập con thuyền Chánh Pháp, vị ấy cùng với các Thanh Văn đã nhập Niết-bàn. Tất cả những người (đức Phật và các vị Thanh Văn), cách sinh hoạt, lề lối oai nghi đáng được chiêm ngưỡng, tất cả đều hoàn toàn biến mất (bản dịch ghi “biết mất”); phải chăng tất cả các hành là trống không? Đấng Chiến Thắng cao quý, bậc Đạo Sư Vessabhū, nhập Niết-bàn tại tu viện Khemā (bản dịch rút gọn thành Khema). Đã có sự phân tán xá-lợi từ xứ sở ấy đến khắp các nơi.”

Hết phần thứ hai mươi mốt: lịch sử đức Phật Vessabhū.