Phần Nói Về Sumedha
Đức Phật kể lại tiền thân của mình: bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn kiếp trước, Bà-la-môn Sumedha giàu có và học rộng, nhưng thấy rõ thân xác và sự tái sinh là khổ, nên bỏ hết của cải lên núi Hy-mã-lạp tu hành và đắc thần thông. Khi Đức Phật Dīpaṅkara xuất hiện, Sumedha nằm xuống bùn làm cầu cho Ngài đi qua, phát nguyện thành Phật và được thọ ký. Sau đó ông tự quán xét, nhận ra và nắm lấy mười pháp toàn hảo mà chư Phật đời trước đã đi.
Điểm thực hànhNguyện lớn chưa đủ — phải quay lại quán xét từng việc cụ thể làm nên con đường: như Sumedha sau khi phát nguyện liền xét từng pháp toàn hảo một (bố thí, giới, xuất ly, trí tuệ...) và bắt đầu tu từng pháp.
Phật Sử Phần Nói Về Sumedha
và một trăm ngàn kiếp,
có thành phố tên Amara
là đáng nhìn, xinh xắn.
(Thành phố này)
dồi dào thức ăn nước uống
và nhộn nhịp với mười loại âm thanh như tiếng voi,
tiếng ngựa, tiếng trống, tiếng tù và vỏ ốc, tiếng xe cộ,
và còn được giới thiệu về thức ăn nước uống:
“Xin hãy nhai, xin hãy uống.”
Thành phố được đầy đủ về mọi yếu tố
và thành tựu tất cả hoạt động về nghề nghiệp,
có đầy đủ bảy loại châu báu,
đông đảo với đủ hạng người,
thịnh vượng tợ như thành phố của chư thiên,
là nơi cư ngụ của những người có được thiện nghiệp.
Vị Bà-la-môn tên Sumedha
ở thành phố Amaravatī
là có được nhiều koṭi tiền tích lũy,
có dồi dào về tài sản và lúa gạo.
Là vị chuyên về phúng tụng,
nắm vững chú thuật,
thông thạo ba bộ Vệ Đà,
đã đạt đến sự toàn hảo về khoa tướng số, về truyền thuyết, và về phận sự chánh yếu.
Khi ấy, sau khi ngồi xuống ở nơi thanh vắng
ta đã suy nghĩ như vầy:
“Sự tái sanh,
sự tiêu hoại của xác thân là khổ.
Và trong khi luôn có trạng thái sanh,
trạng thái già, trạng thái bệnh hoạn,
ta sẽ tầm cầu sự không già, sự không chết, sự an ổn,
Niết Bàn.
Hay là ta nên từ bỏ
tấm thân hôi thối
chất chứa đầy các loại chất phế thải này
và trở thành người không vướng bận, không mong cầu?
Đạo lộ ấy là có và sẽ xuất hiện.
Đạo lộ ấy không thể không có gốc gác.
Ta sẽ tầm cầu đạo lộ ấy
để hoàn toàn giải thoát khỏi hữu.
Cũng giống như khi khổ đau được tìm thấy
thì điều gọi là an lạc cũng được tìm thấy,
tương tợ như thế khi hữu được tìm thấy
thì phi hữu cũng là điều nên được mong mỏi.
Cũng giống như khi sự nóng được tìm thấy
thì điều khác là sự lạnh cũng được tìm thấy,
tương tợ như thế khi ba loại lửa (tham, sân, si) được tìm thấy
thì Niết Bàn cũng là điều nên được mong mỏi.
Cũng giống như khi điều ác được tìm thấy
thì điều thiện cũng được tìm thấy,
tương tợ y như thế khi sanh được tìm thấy
thì vô sanh cũng là điều nên được mong mỏi.
Giống như người bị dính phẩn
nhìn thấy hồ nước đầy
mà không tìm đến hồ nước ấy,
thì việc sai trái ấy không phải là của hồ nước.
Tương tợ như vậy, khi hồ nước Bất Tử được tìm thấy
cho việc gột rửa bợn nhơ phiền não,
người không tìm đến hồ nước ấy
thì điều sai trái không phải là của hồ nước Bất Tử.
Giống như người bị vây hãm xung quanh bởi những kẻ đối nghịch,
khi con đường thoát ra được tìm thấy,
người ấy không tẩu thoát
thì việc sai trái ấy không phải là của con đường.
Tương tợ như vậy, người bị vây hãm toàn diện bởi phiền não,
khi đạo lộ thánh thiện được tìm thấy,
người không chịu tìm đến đạo lộ ấy
thì điều sai trái không phải là của đạo lộ thánh thiện.
Cũng giống như người bị bệnh,
khi vị thầy thuốc được tìm thấy,
người không để cho (vị thầy thuốc) chữa trị căn bệnh ấy
thì việc sai trái ấy không phải là của vị thầy thuốc.
Tương tợ như vậy, người bị khổ đau,
bị hành hạ toàn diện bởi những căn bệnh phiền não
(nhưng) không chịu tìm đến vị thầy
thì điều sai trái ấy không phải là của vị thầy hướng dẫn.
Cũng giống như người
sau khi rủ bỏ thây chết ghê tởm vướng ở cổ
có thể đạt đến an lạc,
sống tự tại, theo ý muốn.
Tương tợ y như thế,
sau khi từ bỏ tấm thân hôi thối
tập hợp đủ loại chất phế thải này,
ta có thể trở thành người không vướng bận, không mong cầu.
Giống như
những người nam hoặc nữ
sau khi thải bỏ phẩn ở nhà tiêu
rồi ra đi không vướng bận, không mong cầu.
Tương tợ y như thế,
sau khi từ bỏ tấm thân được chất chứa đủ loại phế thải này
ta sẽ ra đi
giống như người sau khi đã đi tiêu thì (rời khỏi) nhà xí.
Cũng giống như
những chủ nhân
sau khi quăng bỏ con thuyền cũ kỹ, rã rời, có sự rò rỉ nước,
thì ra đi không còn vướng bận, không mong cầu.
Tương tợ y như thế,
sau khi từ bỏ tấm thân có chín khiếu thường xuyên tiết ra chất dơ này,
ta sẽ ra đi
giống như những chủ nhân quăng bỏ con thuyền đã bị vỡ tan.
Giống như người mang theo hàng hóa
đi cùng bọn trộm cướp,
sau khi nhận thấy nỗi lo sợ bởi việc cướp giật hàng hóa,
liền tách biệt ra đi.
Tương tợ y như thế,
thân này được ví tương đương với kẻ cướp lớn,
ta sẽ chối bỏ thân này và ra đi,
thoát khỏi nỗi sợ hãi về việc bị cướp đoạt thiện pháp.”
Sau khi suy nghĩ như thế,
ta đã bố thí của cải hàng trăm koṭi
đến những người có nơi nương tựa lẫn những người không nơi nương tựa
rồi đã đi đến Hy-mã-lạp sơn.
Ở không xa Hy-mã-lạp sơn,
có ngọn núi tên Dhammaka
là khu ẩn cư khéo được tạo lập dành cho ta
có ngôi nhà lá khéo được xây dựng.
Nơi ấy ta đã tạo ra đường kinh hành
không phạm vào năm điều sai trái.
Ta đã đạt được năng lực của thắng trí
hội đủ tám đức tính.
Ở nơi ấy ta đã quăng bỏ tấm vải choàng
liên quan đến chín điều sai trái.
Ta đã mặc y phục vỏ cây
có được mười hai đức tính.
Ta đã từ bỏ ngôi nhà lá
dính líu tám điều sai trái.
Ta đi đến ngụ ở gốc cây
có được mười đức tính.
Ta đã hoàn toàn từ bỏ mễ cốc
đã được gieo đã được trồng.
Ta đã thọ dụng trái cây rơi rụng
được hội đủ vô số đức tính.
Tại nơi ấy, ta đã ra sức nỗ lực
trong việc ngồi, đứng, đi kinh hành.
Ta đã đạt được năng lực của thắng trí
trong thời gian bảy ngày.
Như thế, khi ta đạt được sự thành tựu (năm thắng trí, ngũ thông)
và trở nên tự tại trong pháp tu tập (của đạo sĩ),
thì đấng Chiến Thắng tên Dīpaṅkara,
vị Lãnh Đạo Thế Gian, đã hiện khởi.
Đắm chìm trong sự thỏa thích của thiền,
ta đã không chứng kiến bốn điều báo hiệu
về sự nhập thai, đản sanh,
giác ngộ, và thuyết giảng Giáo Pháp.
(Những người dân) ở khu vực biên địa,
sau khi thỉnh mời đức Như Lai,
đã dọn sạch sẽ con đường ngự đến của Ngài
với tâm trí hớn hở.
Vào lúc bấy giờ,
sau khi rời khỏi khu ẩn cư của bản thân,
ta, khi ấy, vừa đi ở trên không trung
vừa chỉnh lại bộ y phục bằng vỏ cây.
Nhìn thấy dân chúng tràn ngập niềm phấn khởi,
hớn hở, mừng rỡ, vui sướng,
ta đã từ không trung đáp xuống
rồi lập tức hỏi mọi người rằng:
“Đông đảo dân chúng được hớn hở, mừng rỡ, vui sướng,
tràn ngập niềm phấn khởi.
Đạo lộ, con đường, lối đi, ngõ vào được dọn sạch sẽ
cho ai vậy?”
Được ta hỏi, họ đã đáp rằng:
“Đức Phật, bậc Tối Thượng ở thế gian,
đấng Chiến Thắng, vị Lãnh Đạo Thế Gian tên là Dīpaṅkara
đã hiện khởi.
Đạo lộ, con đường, lối đi, ngõ vào được dọn sạch sẽ
cho vị ấy.”
Khi nghe rằng: “Đức Phật,”
pháp hỷ đã sanh khởi đến ta ngay lập tức.
Ta đã bày tỏ tâm hoan hỷ,
thốt lên rằng: “Đức Phật! Đức Phật!”
Đứng tại nơi ấy,
với tâm trí phấn chấn, hớn hở, ta đã suy nghĩ:
“Ta sẽ gieo các nhân lành ở nơi đây (đức Phật).
Đương nhiên chớ để thời khắc trôi đi” (rồi nói rằng):
“Nếu các người dọn sạch sẽ
vì đức Phật.
Xin các người hãy nhường cho tôi một khu vực.
Tôi cũng sẽ dọn sạch sẽ con đường, lối đi, ngõ vào.”
Rồi họ đã nhường cho ta dọn sạch sẽ con đường
ở một khu vực.
Khi ấy, ta làm sạch sẽ con đường
trong lúc nghĩ tưởng đến “Đức Phật! Đức Phật!”
Khi khu vực của ta còn chưa hoàn tất,
bậc Đại Hiền Triết,
đấng Chiến Thắng Dīpaṅkara,
cùng với bốn trăm ngàn vị Lậu Tận
không còn ô nhiễm có sáu thắng trí (lục thông) như thế ấy,
đã bước lên con đường.
Nhiều người di chuyển từ phía đối diện,
họ vỗ kêu những chiếc trống.
Chư thiên và nhân loại vui mừng
đã thốt lên tiếng “Lành thay!”
Chư thiên ngắm nhìn loài người.
Và loài người cũng nhìn ngắm chư thiên.
Cả hai nhóm ấy cũng đã chắp tay lên
đi theo sau đức Như Lai.
Chư thiên với nhạc khí cõi trời,
loài người với nhạc khí của nhân gian,
cả hai nhóm ấy vừa trình tấu
vừa đi theo sau đức Như Lai.
Chư thiên di chuyển trên bầu trời
ở trong không gian
rải rắc hoa Mạn-đà-la, hoa sen, hoa san hô của cõi trời
xuống hướng này hướng nọ.
Nghĩa là
Vào thời một trăm ngàn kiếp và bốn a-tăng-kỳ (thời gian không đếm được) về trước, có một thành phố tên Amara, đẹp đẽ, dễ thương. (Thành phố ấy) không lúc nào vắng mười thứ tiếng, dồi dào cơm ăn nước uống, tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng trống, tiếng tù và, tiếng xe cộ, và được mời mọc về cơm nước: “Xin hãy ăn, xin hãy uống.” Thành phố đầy đủ mọi mặt, mọi nghề nghiệp đều có đủ, đầy đủ bảy loại báu vật, đông đúc đủ hạng người, thịnh vượng như thành của chư thiên, là nơi ở của những người có phước. Tại thành Amaravatī, vị Bà-la-môn tên là Sumedha; tích lũy nhiều koṭi (đơn vị tiền lớn) của cải, dồi dào tài sản và lúa gạo. Là người chuyên tụng đọc, nắm vững các bài chú, thông thạo ba bộ Vệ Đà, đạt đến tột cùng về khoa xem tướng và truyền thuyết, và về các phận sự của đạo mình. Khi ấy, ngồi ở nơi vắng vẻ, ta suy nghĩ như vầy: “Tái sinh là khổ, và thân này tan rã là khổ.” Và trong khi luôn có sự sinh, sự già, sự bệnh, ta sẽ tìm cái không già, không chết, an ổn, tức là Niết-bàn. Hay là ta nên bỏ cái thân hôi thối này, chất đầy đủ thứ phế thải, rồi đi, không vướng bận, không mong cầu gì nữa?” Con đường ấy có, và sẽ có. Không thể nào không có con đường ấy. Ta sẽ tìm con đường ấy để giải thoát hẳn khỏi vòng sinh tồn.” Như khi có khổ đau, thì cũng có cái gọi là an lạc; cũng vậy, khi có sự sinh tồn, thì sự chấm dứt sinh tồn là điều đáng mong cầu. Như khi có cái nóng, thì cũng có cái lạnh; cũng vậy, khi có ba ngọn lửa (tham, sân, si), thì Niết-bàn là điều đáng mong cầu. Như khi có điều ác, thì cũng có điều thiện; cũng vậy, khi có sự sinh, thì sự không sinh là điều đáng mong cầu. Như người bị dính bẩn, thấy một hồ nước đầy, mà không tìm đến hồ, thì lỗi ấy không phải của hồ nước. Cũng vậy, khi đã có hồ nước Bất Tử, để gột rửa nhơ bẩn của phiền não, người không tìm đến hồ ấy thì lỗi không phải của hồ Bất Tử. Như người bị kẻ địch vây kín, khi đã có đường thoát, mà người ấy không chạy thoát, thì lỗi không phải của con đường. Cũng vậy, người bị phiền não vây kín, khi đã có con đường an lành, mà không chịu tìm đến con đường ấy, thì lỗi không phải của con đường an lành. Cũng như người bệnh, khi đã có thầy thuốc, mà không để thầy thuốc chữa bệnh cho mình, thì lỗi không phải của thầy thuốc. Cũng vậy, người bị khổ đau, bị bệnh phiền não hành hạ khắp người, mà không chịu tìm đến vị thầy, thì lỗi không phải của vị thầy dẫn đường. Cũng như một người, sau khi gỡ bỏ cái thây chết ghê tởm buộc ở cổ, sẽ được an lạc, sống tự tại, theo ý mình. Cũng y như thế, sau khi bỏ cái thân hôi thối này, nơi chứa đủ thứ phế thải, ta sẽ đi, không vướng bận, không mong cầu.” Như những người nam hay nữ, sau khi đi tiêu ở nhà xí, ra đi không vướng bận, không mong cầu. Cũng y như thế, ta cái thân chứa đầy đủ thứ ô uế, ta sẽ ra đi như người đi tiêu xong thì rời nhà xí. Cũng như những người chủ thuyền, sau khi bỏ con thuyền cũ nát, rò nước, ra đi không vướng bận, không mong cầu. Cũng y như thế, ta sau khi bỏ cái thân chín lỗ luôn rỉ chất dơ này, ta sẽ ra đi như người chủ bỏ con thuyền đã vỡ. Như người mang theo hàng hóa đi chung với bọn trộm cướp, thấy mối lo bị cướp hàng, liền tách ra mà đi. Cũng y như thế, thân này ví như tên cướp lớn, ta sẽ bỏ thân này mà đi, khỏi nỗi sợ bị cướp mất việc lành.” Suy nghĩ như thế rồi, ta bố thí của cải hàng trăm koṭi cho cả người có chỗ dựa lẫn người không nơi nương tựa, rồi đi đến núi Hy-mã-lạp. Cách núi Hy-mã-lạp không xa, có ngọn núi tên Dhammaka (Pāli: Dhammika), nơi ấy ta dựng một khu ẩn cư khéo léo, có ngôi nhà lá xây cất cẩn thận. Nơi ấy, ta làm một đường kinh hành không phạm năm lỗi. đầy đủ tám đức tính, ta đạt được sức thắng trí (thần thông). Nơi ấy, ta bỏ tấm vải choàng vốn có chín điều xấu. Ta mặc y bằng vỏ cây, có mười hai đức tính. vốn dính tám điều xấu, ta bỏ ngôi nhà lá. Ta đến ở gốc cây, có mười đức tính. Lúa gạo do gieo trồng mà có, ta bỏ hẳn không còn sót. vốn có vô số đức tính, ta ăn trái cây rơi rụng. Nơi ấy, ta ra sức tu tập trong ngồi, đứng, kinh hành. trong vòng bảy ngày, ta đạt sức thắng trí. Như thế, khi ta đã thành tựu (năm thắng trí), và làm chủ được pháp tu của mình, thì đấng Chiến Thắng tên Dīpaṅkara, vị lãnh đạo thế gian, xuất hiện. Khi Ngài nhập thai, sinh ra, giác ngộ, và thuyết Pháp, ta không thấy bốn điềm báo vì đang đắm trong niềm vui của thiền. (Dân chúng) ở vùng biên địa, sau khi thỉnh mời đức Như Lai, dọn sạch con đường Ngài sẽ đi qua với lòng hớn hở. Vào lúc ấy, ta rời khỏi khu ẩn cư của mình, vừa giũ lại bộ y vỏ cây, bay đi trên không trung. Thấy dân chúng đầy niềm phấn khởi, hớn hở, mừng rỡ, vui sướng, ta từ trên trời đáp xuống rồi liền hỏi mọi người: “Đông đảo dân chúng hớn hở, mừng rỡ, vui sướng, tràn ngập niềm phấn khởi. Con đường, lối đi được dọn sạch là cho ai vậy?” Được ta hỏi, họ đáp: “Đức Phật, bậc cao nhất thế gian, đấng Chiến Thắng, lãnh đạo thế gian tên Dīpaṅkara, đã xuất hiện. Đường đi được dọn sạch là cho Ngài.” Nghe đến chữ “Đức Phật”, niềm vui liền khởi lên trong ta. Ta thốt lên: “Đức Phật! Đức Phật!”, tỏ lòng hoan hỷ. Đứng tại nơi ấy, tâm phấn chấn, hớn hở, ta nghĩ: “Ta sẽ gieo hạt giống lành ngay nơi đây (nơi đức Phật). Đừng để thời cơ trôi qua” (rồi nói:) “Nếu các vị dọn đường xin nhường cho tôi một đoạn, tôi cũng sẽ dọn sạch con đường.” Họ nhường cho ta một khu vực để dọn sạch con đường khi ấy. miệng thầm niệm “Đức Phật! Đức Phật!”, ta dọn sạch con đường. Khi phần của ta chưa dọn xong, bậc Đại Hiền Triết, cùng với bốn trăm ngàn vị có đủ sáu thắng trí như thế ấy, đã hết lậu hoặc, không ô nhiễm, đã bước lên con đường. Nhiều người đi ngược chiều đến đón, họ đánh vang những chiếc trống. Chư thiên và loài người vui mừng cất tiếng “Lành thay!” Chư thiên ngắm nhìn loài người. Loài người cũng ngắm nhìn chư thiên. Cả hai bên đều chắp tay đi theo sau đức Như Lai. Chư thiên với nhạc cụ cõi trời, loài người với nhạc cụ nhân gian, cả hai bên cùng tấu nhạc vừa đi theo sau đức Như Lai. Hoa Mạn-đà-la cõi trời, hoa sen, hoa san hô cõi trời, họ rải xuống khắp các hướng, chư thiên đang ở trên bầu trời.
Bột gỗ đàn hương của cõi trời, và hương thơm quý, thuần khiết, họ rải xuống khắp mọi hướng, các vị thiên đang ở trên không trung.
ném các bông hoa Chăm-pa, bông hoa Salala, bông hoa Nīpa,
bông hoa Nāga, Punnāga, và Ketaka
tỏa khắp các phương.
Tại nơi ấy,
sau khi xõa tóc,
ta đã trải ra bộ y phục vỏ cây và da thú
ở trên bãi bùn lầy, rồi ta đã nằm sấp xuống (nói rằng):
“Xin đức Phật hãy bước lên (người) con.
Xin Ngài cùng các đệ tử hãy tiến bước.
Xin các vị chớ bước đi ở chỗ ấy trong bùn lầy;
(việc này) sẽ đem lại sự lợi ích cho con.”
Khi đang nằm ở trên mặt đất,
tư tưởng như vầy đã khởi đến ta:
“(Nếu) mong muốn, ta có thể thiêu đốt các phiền não của ta
trong ngày hôm nay.
Ta có được gì ở đây
khi chứng đắc Giáo Pháp theo phương thức không được tiếng tăm?
Ta nên thành tựu quả vị Toàn Tri
và trở thành đức Phật ở thế gian có cả chư thiên.
Ta có được gì khi là người biết được sức mạnh (của bản thân)
lại vượt qua chỉ một mình?
Ta nên thành tựu quả vị Toàn Tri
và giúp cho thế gian luôn cả chư thiên vượt qua.
Với hành động hướng thượng này của ta
đã được thực hiện đến bậc Tối Thượng Nhân,
ta sẽ thành tựu quả vị Toàn Tri
và sẽ giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Sau khi cắt đứt giòng chảy luân hồi
và phá hủy ba cõi (tái sanh),
ta sẽ ngự lên con thuyền Chánh Pháp
và sẽ giúp cho thế gian luôn cả chư thiên vượt qua.”
Sự phát nguyện được thành tựu
nhờ vào sự tổng hợp của tám pháp:
Bản thân là loài người, thành tựu nam căn,
có chủng tử, nhìn thấy bậc Đạo Sư,
là vị xuất gia, hội đủ đức hạnh,
có hành động hướng thượng, và lòng ước muốn.
Đấng Thông Suốt Thế Gian Dīpaṅkara,
vị thọ nhận các vật cúng dường,
đã đứng kề cận đỉnh đầu của ta
và đã nói lời này:
“Các ngươi hãy nhìn người đạo sĩ tóc bện
có khổ hạnh cao tột này.
Trong vô lượng kiếp tính từ thời điểm này,
(người này) sẽ trở thành vị Phật ở thế gian.
Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp
tên là Kapila,
đức Như Lai ra sức nỗ lực
và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).
Sau khi ngồi xuống
ở cội cây của những người chăn dê,
đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa
ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).
Ở tại bờ sông Nerañjarā,
đấng Chiến Thắng ấy thọ thực món cơm sữa
rồi đi đến cội cây Bồ Đề
bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.
Kế đó, sau khi nhiễu quanh
khuôn viên của cội Bồ Đề,
bậc Vô Thượng, vị có danh tiếng vĩ đại
sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.
Người mẹ sanh ra vị này
sẽ có tên là Māyā.
Người cha tên là Suddhodana.
Vị này sẽ là Gotama.
Kolita và Upatissa
không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa,
có tâm an tịnh và định tĩnh,
sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu.
Vị thị giả tên là Ānanda
sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng ấy.
Khemā và Uppalavaṇṇā
sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu.
(Hai vị) không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa,
có tâm an tịnh và định tĩnh.
Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy
được gọi tên là ‘Assattha.’
Citta và Haṭṭhāḷavaka
sẽ là (hai) nam thí chủ hộ độ hàng đầu.
Uttarā và Nandamātā
sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Sau khi nghe được lời nói này
của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng,
chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng):
“Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Họ thốt lên những tiếng reo hò,
vỗ tay, và nở nụ cười.
Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên
chắp tay cúi lạy (nói rằng):
“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn
của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này
thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia
trong tương lai xa vời.
Giống như những người băng ngang giòng sông
không đạt được bến bờ đối diện,
họ vượt qua giòng sông rộng lớn
sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Tương tợ y như thế,
nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này
thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia
trong tương lai xa vời.”
Đấng Thông Suốt Thế Gian Dīpaṅkara,
vị thọ nhận các vật cúng dường,
đã công bố về hành động của ta
rồi đã đi nhiễu quanh ta.
Các vị Thích tử hiện diện ở tại nơi ấy
đã đi nhiễu quanh (ta).
Chư thiên, nhân loại, và các A-tu-la
đã đảnh lễ (ta) rồi ra đi.
Khi vị Lãnh Đạo Thế Gian
cùng hội chúng đã đi khỏi tầm nhìn của ta,
khi ấy ta đã từ chỗ nằm vươn dậy
rồi xếp vào thế kiết già.
Khi ấy, ta được an lạc với sự an lạc,
được vui sướng với sự vui sướng,
và trong khi được tràn ngập với pháp hỷ,
và ta đã xếp vào tư thế kiết già.
Sau khi ngồi xuống với tư thế kiết già,
khi ấy ta đã suy nghĩ như vầy:
“Được tự tại trong pháp thiền,
ta đã đạt đến sự toàn hảo về thắng trí.
Ở trong (mười) ngàn thế giới,
các ẩn sĩ ngang bằng với ta là không có.
Không có vị nào bằng về các phép thần thông.
Ta đã đạt được sự an lạc như thế ấy.”
Với tư thế kiết già của ta,
cư dân ở mười ngàn thế giới
đã phát ra lời nói vang dội rằng:
“Chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Trước đây,
những điềm báo hiệu nào đã được thể hiện
khi các vị Bồ Tát xếp vào tư thế kiết già cao quý,
những điều ấy được thể hiện ngày hôm nay.
Sự lạnh lẽo được biến đi
và sự nóng nảy được lắng dịu.
Những điều ấy được thể hiện ngày hôm nay;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Mười ngàn thế giới
không có tiếng động và không bị chộn rộn.
Những điều ấy được thể hiện ngày hôm nay;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Các cơn gió lớn
ngừng thổi, các giòng nước ngừng chảy.
Những điều ấy được thể hiện ngày hôm nay;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Các bông hoa mọc ở trên đất và mọc ở trong nước,
tất cả lập tức nở hoa.
Tất cả những bông hoa ấy cũng được nở ra ngày hôm nay;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Và nếu là những dây leo hay là những cây cối
thì lập tức trở thành trĩu nặng những quả.
Tất cả các cây ấy cũng được kết trái ngày hôm nay;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Ở trên không trung và ở đất liền,
các châu báu lập tức rực sáng.
Các châu báu ấy cũng rực sáng ngày hôm nay;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Các loại nhạc cụ của loài người và của cõi trời
lập tức tấu nhạc.
Cả hai loại nhạc cụ ấy cũng trình tấu ngày hôm nay;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Những bông hoa các loại
đã lập tức rơi xuống từ bầu trời.
Chúng cũng được thể hiện ngày hôm nay;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Đại dương lùi ra xa,
mười thế giới rúng động.
Cả hai việc ấy cũng ầm ĩ ngày hôm nay;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Mười ngàn ngọn lửa ở các địa ngục
lập tức được dập tắt.
Các ngọn lửa ấy cũng được dập tắt ngày hôm nay;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Mặt trời không bị u ám,
tất cả các ngôi sao được nhìn thấy.
Các việc ấy cũng được thể hiện ngày hôm nay;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Dầu không có mưa
nhưng nước lập tức được phun lên từ mặt đất.
Nước ấy cũng được phun lên từ mặt đất ngày hôm nay;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Các chòm sao, các vì tinh tú
chiếu sáng ở trên vòm trời.
Chòm sao Visākhā được liên kết với mặt trăng;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Các loài thú ở hang, các loài thú ở hốc
rời khỏi chỗ ngụ của chúng.
Chúng cũng chối từ chỗ ngụ ngày hôm nay;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Không có sự không vui thích ở các chúng sanh,
họ lập tức trở nên hớn hở.
Tất cả bọn họ cũng hớn hở ngày hôm nay;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Tật bịnh được giảm thiểu
và nạn đói được tiêu trừ.
Các điều ấy cũng được thể hiện ngày hôm nay;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Khi ấy, tham dục trở nên nhỏ nhoi,
sân hận si mê được tiêu trừ.
Tất cả các điều ấy cũng đã biến mất ngày hôm nay;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Khi ấy, nỗi sợ hãi không hiện diện.
Điều ấy cũng được thể hiện ngày hôm nay.
Với hiện tướng ấy, chúng tôi biết được
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Bụi bặm không bốc lên phía bên trên.
Điều ấy cũng được thể hiện ngày hôm nay.
Với hiện tướng ấy, chúng tôi biết được
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Mùi khó chịu biến đi.
Mùi hương của cõi trời tỏa đến.
Hương thơm ấy cũng tỏa ra ngày hôm nay;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Tất cả chư thiên đều hiện ra
ngoại trừ các vị ở cõi vô sắc.
Tất cả các vị ấy cũng được nhìn thấy ngày hôm nay;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Cho đến các nơi gọi là địa ngục,
toàn bộ lập tức được nhìn thấy.
Tất cả các nơi ấy cũng được nhìn thấy ngày hôm nay;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Khi ấy, các bức tường thành, các cánh cửa, và các tảng đá
không còn là các vật chướng ngại.
Ngày hôm nay, chúng cũng đều trở thành những khoảng không;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Sự chết và sự tái sanh
không xảy ra vào thời khắc ấy.
Chúng không được nhìn thấy ngày hôm nay;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Hãy nỗ lực tinh tấn một cách bền bĩ.
Chớ có quay lui, hãy tiến bước.
Chúng tôi cũng biết rõ điều này;
chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.”
Nghe được lời nói của cả hai là của đức Phật và
của (chư thiên) mười ngàn thế giới,
khi ấy ta trở nên hớn hở, mừng rỡ, vui sướng,
và đã suy nghĩ như vầy:
“Chư Phật, các đấng Chiến Thắng không có nói hai lời,
không có lời nói rồ dại.
Chư Phật không có sự dối trá,
chắc chắn ta sẽ trở thành vị Phật.
Giống như cục đất được ném ở khoảng không
thì chắc chắn rơi xuống đất,
tương tợ y như thế lời nói của chư Phật
là chắc chắn và có cơ sở.
Chư Phật không có sự dối trá,
chắc chắn ta sẽ trở thành vị Phật.
Cũng giống như sự chết của tất cả chúng sanh
là chắc chắn và có cơ sở,
tương tợ y như thế lời nói của chư Phật tối thượng
là chắc chắn và có cơ sở.
Chư Phật không có sự dối trá,
chắc chắn ta sẽ trở thành vị Phật.
Giống như khi đêm tàn đã đến
thì có sự mọc lên của mặt trời là điều chắc chắn,
tương tợ y như thế lời nói của chư Phật tối thượng
là chắc chắn và có cơ sở.
Chư Phật không có sự dối trá,
chắc chắn ta sẽ trở thành vị Phật.
Giống như tiếng rống của con sư tử
khi rời khỏi chỗ nằm là điều chắc chắn,
tương tợ y như thế lời nói của chư Phật tối thượng
là chắc chắn và có cơ sở.
Chư Phật không có sự dối trá,
chắc chắn ta sẽ trở thành vị Phật.
Giống như việc hạ sanh của các sản phụ
là điều chắc chắn,
tương tợ y như thế lời nói của chư Phật tối thượng
là chắc chắn và có cơ sở.
Chư Phật không có sự dối trá,
chắc chắn ta sẽ trở thành vị Phật.
Vậy, ta hãy xem xét các pháp tạo thành quả vị Phật
từ nơi này và từ nơi này,
ở bên trên (cõi trời), ở bên dưới (cõi nhân loại), và các phương hướng
cho đến tận bản thể của các pháp ấy.”
Khi ấy, trong lúc xem xét
ta đã nhận ra pháp thứ nhất là sự toàn hảo về bố thí (bố thí ba-la-mật),
là đạo lộ thênh thang
đã được thực hành bởi các vị đại ẩn sĩ tiền bối.
Ngươi hãy củng cố và thọ trì
cho được pháp thứ nhất này.
Ngươi hãy đạt đến sự toàn hảo về bố thí
nếu ngươi muốn đạt được quả vị Giác Ngộ.
Cũng giống như cái chum được chứa đầy
đã bị úp ngược lại bởi bất cứ người nào
thì tuôn nước ra không còn dư sót,
hoàn toàn không giữ lại ở trong đó.
Tương tợ y như thế, khi nhìn thấy những người cầu xin
dầu hèn, sang, hay trung bình,
ngươi hãy cho ra vật thí không chừa lại
ví như cái chum đã được úp ngược.
Nhưng các pháp tu thành Phật
sẽ không chỉ có chừng ấy,
ta sẽ xem xét các điều khác
cũng là các pháp làm chín muồi sự giác ngộ.
Khi ấy,
trong lúc xem xét
ta đã nhận ra pháp thứ nhì là sự toàn hảo về giới
đã được các vị đại ẩn sĩ tiền bối thực hành, gắn bó.
Ngươi hãy củng cố và thọ trì
cho được pháp thứ nhì này.
Ngươi hãy đạt đến sự toàn hảo về giới
nếu ngươi muốn đạt được Giác Ngộ.
Cũng giống như con bò mộng
có cái đuôi bị vướng vào bất cứ vật gì
thà chấp nhận cái chết ở tại nơi ấy
chứ không làm đứt cái đuôi.
Tương tợ y như thế,
ngươi hãy làm tròn đủ các giới luật trong bốn lãnh vực,
hãy luôn luôn gìn giữ vẹn toàn giới luật
giống như là con bò mộng hộ trì cái đuôi vậy.
Nhưng các pháp tạo thành quả vị Phật
sẽ không chỉ có chừng ấy,
ta sẽ xem xét các điều khác nữa
cũng là các pháp làm chín muồi sự giác ngộ.
Khi ấy,
trong lúc xem xét
ta đã nhận ra pháp thứ ba là sự toàn hảo về xuất ly
đã được các vị đại ẩn sĩ tiền bối thực hành, gắn bó.
Ngươi hãy củng cố và thọ trì
cho được pháp thứ ba này.
Ngươi hãy đạt đến sự toàn hảo về xuất ly
nếu ngươi muốn đạt được quả vị Giác Ngộ.
Giống như người sống đã lâu
ở trong nhà tù, bị hành hạ khổ sở,
không khởi lên lòng ái luyến đối với nơi ấy
mà tầm cầu chỉ mỗi sự tự do.
Tương tợ y như thế, ngươi hãy nhìn tất cả các cõi tái sanh (dục giới, sắc giới, vô sắc giới)
như là các nhà tù.
Hãy hướng về xuất ly
nhắm đến sự hoàn toàn giải thoát khỏi các cõi.
Nhưng các pháp tạo thành quả vị Phật
sẽ không chỉ có chừng ấy,
ta sẽ xem xét các điều khác nữa
cũng là các pháp làm chín muồi sự giác ngộ.
Khi ấy,
trong lúc xem xét
ta đã nhận ra pháp thứ tư là sự toàn hảo về trí tuệ
đã được các vị đại ẩn sĩ tiền bối thực hành, gắn bó.
Ngươi hãy củng cố và thọ trì
cho được pháp thứ tư này.
Ngươi hãy đạt đến sự toàn hảo về trí tuệ
nếu ngươi muốn đạt được quả vị Giác Ngộ.
Cũng giống như vị tỳ khưu
trong khi đi khất thực
không bỏ qua các gia đình dầu hèn, sang, hay trung lưu,
và đạt được phương tiện sinh sống như thế ấy.
Tương tợ y như thế,
trong khi vấn hỏi người có trí tuệ vào mọi thời điểm,
ngươi sẽ đạt đến sự toàn hảo về trí tuệ
và sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác.
Nhưng các pháp tạo thành quả vị Phật
sẽ không chỉ có chừng ấy,
ta sẽ xem xét các điều khác nữa
cũng là các pháp làm chín muồi sự giác ngộ.
Khi ấy,
trong lúc xem xét
ta đã nhận ra pháp thứ năm là sự toàn hảo về tinh tấn
đã được các vị đại ẩn sĩ tiền bối thực hành, gắn bó.
Ngươi hãy củng cố và thọ trì
cho được pháp thứ năm này.
Ngươi hãy đạt đến sự toàn hảo về tinh tấn
nếu ngươi muốn đạt được quả vị Giác Ngộ.
Cũng giống như con sư tử,
vua các loài thú,
trong khi ngồi, đứng, đi tới lui,
có sự tinh tấn không uể oải và có tâm cảnh giác vào khi ấy.
Tương tợ y như thế,
ở tại tất cả các cõi tái sanh
ngươi hãy nỗ lực sự tinh tấn bền vững,
sau khi đạt đến sự toàn hảo về tinh tấn ngươi sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác.
Nhưng các pháp tạo thành quả vị Phật
sẽ không chỉ có chừng ấy,
ta sẽ xem xét các điều khác nữa
cũng là các pháp làm chín muồi sự giác ngộ.
Khi ấy,
trong lúc xem xét
ta đã nhận ra pháp thứ sáu là sự toàn hảo về nhẫn nại
đã được các vị đại ẩn sĩ tiền bối thực hành, gắn bó.
Ngươi hãy củng cố và thọ trì
cho được pháp thứ sáu này.
Với tâm trí không chao động ở trong pháp ấy,
ngươi sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác.
Cũng giống như trái đất
chịu đựng tất cả các vật quăng bỏ,
cả sạch sẽ lẫn dơ dáy,
không tỏ ra bực bội hay thích thú.
Tương tợ y như thế,
ngươi cũng hãy chấp nhận sự trọng vọng hoặc khinh khi của tất cả,
sau khi đạt đến sự toàn hảo về nhẫn nại
ngươi sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác.
Nhưng các pháp tạo thành quả vị Phật
sẽ không chỉ có chừng ấy,
ta sẽ xem xét các điều khác nữa
cũng là các pháp làm chín muồi quả vị Giác Ngộ.
Khi ấy,
trong lúc xem xét
ta đã nhận ra pháp thứ bảy là sự toàn hảo về chân thật
đã được các vị đại ẩn sĩ tiền bối thực hành, gắn bó.
Ngươi hãy củng cố và thọ trì
cho được pháp thứ bảy này.
Không có nói hai lời trong pháp này (thì)
ngươi sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác.
Cũng giống như (ngôi sao) Osadhī,
có trạng thái cân bằng ở tại thế gian luôn cả các cõi trời,
không đi lệch ra ngoài quỹ đạo
vào thời điểm trong năm hoặc mùa tiết.
Tương tợ y như thế,
chớ đi lệch ra khỏi đường lối của các sự thật,
sau khi đạt đến sự toàn hảo về chân thật
ngươi sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác.
Nhưng các pháp tạo thành quả vị Phật
sẽ không chỉ có chừng ấy,
ta sẽ xem xét các điều khác nữa
cũng là các pháp làm chín muồi sự giác ngộ.
Khi ấy,
trong lúc xem xét
ta đã nhận ra pháp thứ tám là sự toàn hảo về quyết định
đã được các vị đại ẩn sĩ tiền bối thực hành, gắn bó.
Ngươi hãy củng cố và thọ trì
cho được pháp thứ tám này.
Sau khi trở nên không còn giao động trong pháp này
ngươi sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác.
Cũng giống như hòn núi đá
bền vững, khéo được kết cấu,
đứng yên tại chính vị trí của nó,
không rung động vì những cơn gió dữ dội.
Tương tợ y như thế,
ngươi cũng hãy luôn luôn không chao đảo trong sự quyết định,
sau khi đạt được sự toàn hảo về quyết định
ngươi sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác.
Nhưng các pháp tạo thành quả vị Phật
sẽ không chỉ có chừng ấy,
ta sẽ xem xét các điều khác nữa
cũng là các pháp làm chín muồi sự giác ngộ.
Khi ấy,
trong lúc xem xét
ta đã nhận ra pháp thứ chín là sự toàn hảo về từ ái
đã được các vị đại ẩn sĩ tiền bối thực hành, gắn bó.
Ngươi hãy củng cố và thọ trì
cho được pháp thứ chín này.
Hãy là người không ai sánh bằng về lòng từ ái
nếu ngươi muốn đạt được quả vị Giác Ngộ.
Cũng giống như nước tẩy sạch bụi bặm cáu ghét,
và đem lại sự mát mẻ
cho những người hiền và những kẻ ác
một cách bình đẳng.
Tương tợ y như thế,
ngươi hãy phát triển tâm từ ái một cách bình đẳng
đối với người thân hay kẻ nghịch.
Sau khi đạt được sự toàn hảo về từ ái ngươi sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác.
Nhưng các pháp tạo thành quả vị Phật
sẽ không chỉ có chừng ấy,
ta sẽ xem xét các điều khác nữa
cũng là các pháp làm chín muồi sự giác ngộ.
Khi ấy,
trong lúc xem xét
ta đã nhận ra pháp thứ mười là sự toàn hảo về hành xả
đã được các vị đại ẩn sĩ tiền bối thực hành, gắn bó.
Ngươi hãy củng cố và thọ trì
cho được pháp thứ mười này.
Được cân bằng và trở nên vững chải,
ngươi sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác.
Cũng giống như trái đất bình thản
đối với vật dơ vật sạch
đã được ném xuống,
không phạm vào cả hai điều là giận dữ hay ưu đãi ấy.
Tương tợ y như thế,
ngươi hãy luôn luôn giữ trạng thái cân bằng
đối với lạc và khổ,
sau khi đạt đến sự toàn hảo về hành xả ngươi sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác.
Các pháp làm chín muồi sự giác ngộ ở thế gian
chỉ có chừng ấy,
không có pháp nào khác hơn thế nữa.
Ngươi hãy thiết lập bền vững trong các pháp ấy.
Trong khi ta đang suy nghiệm các pháp này
về bản thể, tính chất, và đặc điểm,
do oai lực của các pháp quả đất
và mười ngàn thế giới đã rúng động.
Quả đất lay động gào thét
như là máy ép mía bị khuấy rối.
Máy ép dầu có bánh xe rung chuyển như thế nào
thì trái đất rung động như thế ấy.
Cho đến nhóm người
ở tại nơi dâng cúng vật thực đến đức Phật,
trong lúc run rẩy họ bị choáng váng
rồi nằm dài trên mặt đất tại nơi ấy.
Hàng ngàn hũ đựng nước
và nhiều trăm chiếc lu
va chạm lẫn nhau
bị vỡ tan, bị nghiền nát ở tại nơi ấy.
Với tâm trí lo âu, sợ hãi, hoảng hốt,
hồi hộp, bối rối,
dân chúng đã tụ hội lại
rồi đi đến gặp (đức Phật) Dīpaṅkara (hỏi rằng):
“Điều gì sẽ xảy ra ở thế gian?
Là điều tốt hay điều xấu?
Toàn bộ thế gian bị khuấy động,
xin bậc Hữu Nhãn hãy xua tan điều ấy.”
Khi ấy, bậc Đại Hiền Triết Dīpaṅkara
đã giải thích rõ cho họ rằng:
“Hãy yên tâm. Chớ có hoảng hốt
về việc động đất này.
Người mà hôm nay ta đã công bố
sẽ trở thành vị Phật ở thế gian,
người ấy suy nghiệm về pháp
đã được thực hành bởi các đấng Chiến Thắng thời quá khứ.
Trong khi vị ấy đang suy nghiệm về pháp
là nền tảng của chư Phật không có thiếu sót,
vì thế trái đất này
với mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên đã rúng động.”
Sau khi lắng nghe lời nói của đức Phật,
lập tức tâm (mọi người) được lắng dịu.
Tất cả đã đến gần ta
rồi cũng đã đảnh lễ lần nữa.
Sau khi đã thọ trì đức hạnh của chư Phật
và lập tâm kiên cố,
khi ấy ta đã cúi lạy (đức Phật) Dīpaṅkara
và đã từ chỗ ngồi đứng dậy.
Với những bông hoa,
cả hai hạng chư thiên và nhân loại
rải rắc bông hoa của cõi trời và của loài người
xuống Sumedha đang từ chỗ ngồi đứng dậy.
Và cả hai hạng chư thiên và nhân loại
ấy phát biểu lời chúc tốt lành rằng:
“Lời phát nguyện của ngài thật vĩ đại.
Mong rằng ngài sẽ đạt được điều ấy theo như ước muốn.
Mong rằng tất cả các điều rủi ro được xa lánh.
Mong rằng sầu não, bệnh tật được tiêu trừ.
Mong rằng sự nguy hiểm đừng xảy đến cho ngài.
Ngài hãy mau mau đạt đến quả vị Giác Ngộ tối thượng.
Cũng giống như cây cho hoa
nở hoa khi đến mùa,
tương tợ y như thế, hỡi Đức Phật Anh Hùng,
xin ngài hãy trổ hoa với trí tuệ của vị Phật.
Giống như bất cứ những vị nào là Toàn Giác
đều đã làm tròn đủ sự toàn hảo của mười pháp,
tương tợ y như thế, hỡi đấng Đại Hùng,
xin ngài hãy làm tròn đủ sự toàn hảo của mười pháp.
Giống như bất cứ những vị nào là Toàn Giác
đã giác ngộ ở khuôn viên cội Bồ Đề,
tương tợ y như thế, hỡi đấng Đại Hùng,
xin ngài hãy giác ngộ ở cội Bồ Đề của đấng Chiến Thắng.
Giống như bất cứ những vị nào là Toàn Giác
đã chuyển vận bánh xe Chánh Pháp,
tương tợ y như thế, hỡi đấng Đại Hùng,
xin ngài hãy chuyển vận bánh xe Chánh Pháp.
Giống như mặt trăng vào ngày rằm
là thanh khiết và chiếu sáng,
tương tợ y như thế, ngài đã được vẹn toàn,
xin ngài hãy chiếu sáng mười ngàn thế giới.
Giống như mặt trời được thoát khỏi thần Rāhu
thì vô cùng rạng rỡ với nguồn năng lượng,
tương tợ y như thế sau khi thoát ra khỏi thế gian
xin ngài hãy tỏa sáng với sự vinh quang.
Giống như mọi con sông
đều chảy xuôi về biển cả,
tương tợ như thế các thế gian luôn cả chư thiên
xuôi dòng trong sự hiện diện của Ngài.”
Khi ấy, được họ tán dương và ca ngợi,
vị ấy đã thọ trì mười pháp.
Và trong khi làm tròn đủ các pháp ấy,
vị ấy đã tiến vào khu rừng thẳm.
Nghĩa là
Hoa Chăm-pa, hoa Salala, hoa Nīpa, hoa Nāga, hoa Punnāga và hoa Ketaka, họ ném tung đi khắp các hướng, những người ở trên mặt đất. Tại nơi ấy, sau khi xõa tóc ra, bộ y vỏ cây và tấm da thú trải trên bãi bùn, rồi nằm sấp xuống (nói rằng:) “Xin đức Phật bước qua người con. Xin Ngài cùng các đệ tử cứ tiến bước. Xin đừng bước vào chỗ bùn lầy ấy; (việc này) sẽ đem lại lợi ích cho con.” Khi đang nằm trên mặt đất, ý nghĩ này khởi lên trong ta: “Nếu muốn, hôm nay ta có thể đốt sạch các phiền não của mình.” Ta được gì ở đây khi chứng đắc Pháp một cách lặng lẽ không ai biết? Ta hãy đạt quả vị Toàn Tri (biết tất cả) và thành Phật trong thế gian cùng chư thiên.” Ta được gì khi biết sức mình mà vượt qua một mình? Ta hãy đạt quả vị Toàn Tri và giúp thế gian cùng chư thiên vượt qua.” Với việc phụng sự hướng thượng này của ta, đã làm cho bậc người cao nhất, ta sẽ đạt quả vị Toàn Tri và đưa nhiều chúng sinh qua bờ bên kia. Sau khi cắt đứt dòng luân hồi và phá hủy ba cõi sinh tồn, ta sẽ lên con thuyền Pháp và giúp thế gian cùng chư thiên vượt qua.” Là con người, thành tựu thân nam, có nhân duyên, được gặp bậc Đạo Sư, đã xuất gia, đầy đủ đức hạnh, hết lòng phụng sự và có ước muốn mãnh liệt, nhờ hội đủ tám pháp, lời phát nguyện được thành tựu. Đức Dīpaṅkara, bậc thấu suốt thế gian, đấng xứng nhận cúng dường, đứng gần phía đầu của ta và nói lời này: “Hãy nhìn vị đạo sĩ tóc bện này, người có khổ hạnh tột bực này. Sau vô lượng kiếp kể từ nay, người này sẽ thành Phật trong thế gian. Có một thành phố xinh đẹp tên là Kapila (Ca-tỳ-la-vệ), đức Như Lai rời thành ra đi, đức Như Lai sẽ nỗ lực tu tập và làm những việc khó làm (khổ hạnh). Ở cội cây Ajapāla (cây của người chăn dê), đức Như Lai đã ngồi xuống, đức Như Lai nhận món cơm sữa tại nơi ấy, rồi đi đến sông Nerañjarā (Ni-liên-thiền). Ở bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng thọ dụng món cơm sữa bằng con đường cao quý đã được dọn sẵn, rồi đi đến gốc cây Bồ Đề. Kế đó, sau khi đi nhiễu quanh khuôn viên cây Bồ Đề, ở cội cây Assattha, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ giác ngộ. Người mẹ sinh ra vị này sẽ tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.” không còn lậu hoặc, đã lìa tham ái, tâm an tịnh và định tĩnh, Kolita và Upatissa, sẽ là hai vị đệ tử hàng đầu. Vị thị giả tên Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng ấy. Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là hai vị nữ đệ tử hàng đầu. (Hai vị) không còn lậu hoặc, đã lìa tham ái, tâm an tịnh và định tĩnh. Cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha’. Citta và Hatthāḷavaka sẽ là hai nam cư sĩ hộ độ hàng đầu. Uttarā và Nandamātā sẽ là hai nữ cư sĩ hộ độ hàng đầu.” Nghe lời này của bậc đại ẩn sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và loài người vui mừng (nghĩ rằng:) “Vị này là mầm giống của chư Phật.” Họ cất tiếng reo hò, vỗ tay, và cười. chắp tay cúi lạy (nói rằng:) Mười ngàn thế giới cùng chư thiên. “Nếu chúng tôi lỡ mất giáo huấn của đấng lãnh đạo thế gian này, chúng tôi sẽ được gặp vị kia trong tương lai xa.” Như người qua sông không tới được bến đỗ đã định, họ qua được con sông lớn sau khi cập một bến thấp hơn ở phía dưới. Cũng y như thế, chúng tôi tất cả nếu lỡ mất đấng Chiến Thắng này, sẽ được gặp vị kia trong tương lai xa.” Đức Dīpaṅkara, bậc thấu suốt thế gian, đấng xứng nhận cúng dường, sau khi tuyên bố về việc làm của ta, rồi đi nhiễu quanh ta. Các vị đệ tử của đấng Chiến Thắng có mặt nơi ấy đi nhiễu quanh ta. Chư thiên, loài người và các A-tu-la đảnh lễ ta rồi ra đi. Khi vị lãnh đạo thế gian cùng hội chúng đã đi khuất tầm mắt, ta từ chỗ nằm đứng dậy rồi ngồi kiết già. Khi ấy, ta hạnh phúc với niềm hạnh phúc, vui sướng với niềm vui sướng, tràn ngập niềm hoan hỷ, và ta ngồi vào tư thế kiết già. Ngồi xuống trong tư thế kiết già, ta suy nghĩ như vầy: “Ta đã làm chủ được thiền, đã đi đến tột cùng về thắng trí.” Trong ngàn thế giới này, không ẩn sĩ nào bằng ta. Không ai bằng ta về thần thông. Ta đã được niềm an lạc như thế ấy.” Khi ta ngồi kiết già, cư dân mười ngàn thế giới cất tiếng nói vang dội: “Chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Xưa kia, những điềm báo nào đã xuất hiện khi các vị Bồ Tát ngồi kiết già cao quý, những điềm ấy hôm nay đều xuất hiện. Cái lạnh tan biến và cái nóng lắng dịu. Những điềm ấy hôm nay xuất hiện; chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Mười ngàn thế giới trở nên yên tiếng, không xáo động. Những điềm ấy hôm nay xuất hiện; chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Những cơn gió lớn ngừng thổi, các dòng nước ngừng chảy. Những điềm ấy hôm nay xuất hiện; chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Hoa mọc trên đất và trong nước, tất cả lập tức nở. Tất cả hoa ấy hôm nay đều nở; chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Dây leo hay cây cối, lập tức trĩu đầy quả. Tất cả cây ấy hôm nay đều kết trái; chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Trên trời và dưới đất, các châu báu lập tức sáng rực. Các châu báu ấy hôm nay cũng sáng rực; chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Nhạc cụ của loài người và của cõi trời lập tức tấu lên. Cả hai thứ nhạc cụ ấy hôm nay cũng tấu lên; chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Đủ loại hoa, lập tức mưa xuống từ bầu trời. Chúng hôm nay cũng xuất hiện; chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Đại dương rút ra xa, mười ngàn thế giới rúng động. Cả hai việc ấy hôm nay cũng vang lên; chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Lửa trong mười ngàn địa ngục lập tức tắt hết. Những ngọn lửa ấy hôm nay cũng tắt; chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Mặt trời trong trẻo, không bị che mờ, tất cả các ngôi sao đều thấy được. Những việc ấy hôm nay cũng xuất hiện; chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Dù không có mưa, nước lập tức phun lên từ mặt đất. Nước ấy hôm nay cũng phun lên từ đất; chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Các chòm sao, các vì tinh tú chiếu sáng trên vòm trời. Chòm sao Visākhā hợp với mặt trăng; chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Các loài thú ở hang, ở hốc, rời khỏi chỗ ở của chúng. Chúng hôm nay cũng bỏ chỗ ở; chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Chúng sinh không còn ai bất mãn, họ lập tức trở nên hớn hở. Tất cả họ hôm nay cũng hớn hở; chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Bệnh tật thuyên giảm và nạn đói tiêu tan. Những điều ấy hôm nay cũng xuất hiện; chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Khi ấy, tham dục trở nên mỏng nhẹ, sân hận và si mê tiêu tan. Tất cả những thứ ấy hôm nay đều biến mất; chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Khi ấy, không còn nỗi sợ hãi. Điều ấy hôm nay cũng xuất hiện. Nhờ dấu hiệu ấy, chúng tôi biết chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Bụi không bốc lên cao. Điều ấy hôm nay cũng xuất hiện. Nhờ dấu hiệu ấy, chúng tôi biết chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Mùi khó chịu biến mất. Hương thơm cõi trời tỏa đến. Hương thơm ấy hôm nay cũng tỏa ra; chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Tất cả chư thiên đều hiện ra, trừ các vị ở cõi vô sắc. Tất cả các vị ấy hôm nay cũng được nhìn thấy; chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Cho đến những nơi gọi là địa ngục, toàn bộ lập tức được nhìn thấy. Tất cả những nơi ấy hôm nay cũng được nhìn thấy; chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Khi ấy, tường thành, cánh cửa và tảng đá không còn là vật chướng ngại. Hôm nay, chúng đều thành như khoảng không; chắc chắn ngài sẽ thành Phật.” Sự chết và sự tái sinh không xảy ra vào khoảnh khắc ấy. Chúng hôm nay không thấy xuất hiện; chắc chắn ngài sẽ thành Phật. Hãy vững chắc nỗ lực tinh tấn. Đừng quay lui, hãy tiến bước. Chúng tôi cũng biết rõ điều này; chắc chắn ngài sẽ thành Phật.” Nghe lời của cả hai bên: của đức Phật và của (chư thiên trong) mười ngàn thế giới, ta trở nên hớn hở, mừng rỡ, vui sướng, và suy nghĩ như vầy: “Chư Phật, các đấng Chiến Thắng, không nói hai lời, lời nói không hề suông rỗng. Chư Phật không có lời dối trá, chắc chắn ta sẽ thành Phật. Như cục đất ném lên trời, chắc chắn rơi xuống đất; cũng vậy, lời của chư Phật cao cả là chắc chắn, luôn đúng. Chư Phật không có lời dối trá, chắc chắn ta sẽ thành Phật. Như cái chết của mọi chúng sinh là điều chắc chắn, luôn đúng, cũng vậy, lời của chư Phật tối thượng là chắc chắn, luôn đúng. Chư Phật không có lời dối trá, chắc chắn ta sẽ thành Phật. Như khi đêm tàn, mặt trời mọc là điều chắc chắn; cũng vậy, lời của chư Phật tối thượng là chắc chắn, luôn đúng. Chư Phật không có lời dối trá, chắc chắn ta sẽ thành Phật. Như tiếng rống của sư tử khi rời chỗ nằm là điều chắc chắn; cũng vậy, lời của chư Phật tối thượng là chắc chắn, luôn đúng. Chư Phật không có lời dối trá, chắc chắn ta sẽ thành Phật. Như việc người mẹ mang thai sinh con là điều chắc chắn; cũng vậy, lời của chư Phật tối thượng là chắc chắn, luôn đúng. Chư Phật không có lời dối trá, chắc chắn ta sẽ thành Phật. Vậy, ta hãy xét các pháp làm nên quả Phật khắp nơi này nơi nọ, trên trời, dưới đất, và khắp mười phương, cho đến tận gốc rễ của các pháp ấy.” Khi ấy, đang xét, ta thấy pháp thứ nhất là bố thí toàn hảo (bố thí ba-la-mật), được các bậc đại ẩn sĩ xưa thực hành, con đường rộng lớn. Ngươi hãy nắm vững và giữ lấy pháp thứ nhất này. Hãy đi đến chỗ trọn vẹn của bố thí, nếu ngươi muốn đạt quả Giác Ngộ.” Như cái chum đầy nước, bị ai đó úp ngược lại, nước tuôn ra hết, không còn sót, không giữ lại chút nào trong đó. Cũng vậy, khi thấy người đến xin, dù hèn, sang, hay trung bình, hãy cho hết, không chừa lại, như cái chum đã úp ngược. Nhưng các pháp làm nên quả Phật không chỉ có chừng ấy; ta sẽ xét thêm những pháp khác, là những pháp làm chín muồi giác ngộ.” Khi ấy, đang xét, ta thấy pháp thứ hai là giới toàn hảo, được các bậc đại ẩn sĩ xưa thực hành, gắn bó. Ngươi hãy nắm vững và giữ lấy pháp thứ hai này. Hãy đi đến chỗ trọn vẹn của giới, nếu ngươi muốn đạt quả Giác Ngộ.” Như con camarī (loài thú quý đuôi), cái đuôi bị vướng vào vật gì, thà chịu chết ngay tại chỗ chứ không làm tổn hại cái đuôi. Cũng vậy, ngươi hãy làm trọn đủ giới trong bốn lãnh vực, luôn gìn giữ giới cho vẹn toàn, như con camarī giữ gìn cái đuôi vậy.” Nhưng các pháp làm nên quả Phật không chỉ có chừng ấy; ta sẽ xét thêm những pháp khác nữa, là những pháp làm chín muồi giác ngộ.” Khi ấy, đang xét, ta thấy pháp thứ ba là xuất ly toàn hảo, được các bậc đại ẩn sĩ xưa thực hành, gắn bó. Ngươi hãy nắm vững và giữ lấy pháp thứ ba này. Hãy đi đến chỗ trọn vẹn của xuất ly, nếu ngươi muốn đạt quả Giác Ngộ.” Như người ở lâu trong nhà tù, bị hành hạ khổ sở, không hề luyến ái nơi ấy, chỉ tìm sự thoát ra. Cũng vậy, ngươi hãy nhìn mọi cõi tái sinh (dục, sắc, vô sắc giới) như những nhà tù. Hãy hướng về sự xuất ly, nhắm đến giải thoát hẳn khỏi các cõi.” Nhưng các pháp làm nên quả Phật không chỉ có chừng ấy; ta sẽ xét thêm những pháp khác, là những pháp làm chín muồi giác ngộ.” Khi ấy, đang xét, ta thấy pháp thứ tư là trí tuệ toàn hảo, được các bậc đại ẩn sĩ xưa thực hành, gắn bó. Ngươi hãy nắm vững và giữ lấy pháp thứ tư này. Hãy đi đến chỗ trọn vẹn của trí tuệ, nếu ngươi muốn đạt quả Giác Ngộ.” Như vị Tỷ-kheo, khi đi khất thực, không bỏ qua nhà nào, dù hèn, sang, hay trung bình, và nhờ thế mà sống được. Cũng vậy, ngươi luôn học hỏi người có trí, sẽ đi đến chỗ trọn vẹn của trí tuệ và sẽ đạt quả Toàn Giác.” Nhưng các pháp làm nên quả Phật không chỉ có chừng ấy; ta sẽ xét thêm những pháp khác, là những pháp làm chín muồi giác ngộ.” Khi ấy, đang xét, ta thấy pháp thứ năm là tinh tấn toàn hảo, được các bậc đại ẩn sĩ xưa thực hành, gắn bó. Ngươi hãy nắm vững và giữ lấy pháp thứ năm này. Hãy đi đến chỗ trọn vẹn của tinh tấn, nếu ngươi muốn đạt quả Giác Ngộ.” Như con sư tử, vua của muôn thú, khi ngồi, đứng, đi lại, tinh tấn không uể oải, tâm luôn cảnh giác. Cũng vậy, trong mọi cõi tái sinh, hãy nỗ lực tinh tấn cho bền vững, đi đến chỗ trọn vẹn của tinh tấn, ngươi sẽ đạt quả Toàn Giác.” Nhưng các pháp làm nên quả Phật không chỉ có chừng ấy; ta sẽ xét thêm những pháp khác, là những pháp làm chín muồi giác ngộ.” Khi ấy, đang xét, ta thấy pháp thứ sáu là nhẫn nại toàn hảo, được các bậc đại ẩn sĩ xưa thực hành, gắn bó. Ngươi hãy nắm vững và giữ lấy pháp thứ sáu này. Với tâm không hai lòng trong pháp ấy, ngươi sẽ đạt quả Toàn Giác.” Như trái đất, chịu đựng mọi thứ người ta ném xuống, cả sạch lẫn dơ, mà không hề tỏ ra bực bội. Cũng vậy, ngươi hãy chịu đựng sự tôn trọng hay khinh khi của mọi người, đi đến chỗ trọn vẹn của nhẫn nại, ngươi sẽ đạt quả Toàn Giác.” Nhưng các pháp làm nên quả Phật không chỉ có chừng ấy; ta sẽ xét thêm những pháp khác nữa, là những pháp làm chín muồi quả Giác Ngộ.” Khi ấy, đang xét, ta thấy pháp thứ bảy là chân thật toàn hảo, được các bậc đại ẩn sĩ xưa thực hành, gắn bó. Ngươi hãy nắm vững và giữ lấy pháp thứ bảy này. Không nói hai lời trong pháp ấy, ngươi sẽ đạt quả Toàn Giác.” Như ngôi sao Osadhī (sao mai), giữ thế cân bằng giữa thế gian và các cõi trời, không đi lệch quỹ đạo theo đúng thời điểm trong năm, theo mùa. Cũng vậy, ngươi đừng đi lệch khỏi đường của sự thật, đi đến chỗ trọn vẹn của chân thật, ngươi sẽ đạt quả Toàn Giác.” Nhưng các pháp làm nên quả Phật không chỉ có chừng ấy; ta sẽ xét thêm những pháp khác, là những pháp làm chín muồi giác ngộ.” Khi ấy, đang xét, ta thấy pháp thứ tám là quyết định toàn hảo, được các bậc đại ẩn sĩ xưa thực hành, gắn bó. Ngươi hãy nắm vững và giữ lấy pháp thứ tám này. Trở nên bất động trong pháp ấy, ngươi sẽ đạt quả Toàn Giác.” Như hòn núi đá, vững chãi, đứng chắc, đứng yên tại chỗ của nó, không rung động trước gió mạnh. Cũng vậy, ngươi hãy luôn bất động trong sự quyết định, đi đến chỗ trọn vẹn của quyết định, ngươi sẽ đạt quả Toàn Giác.” Nhưng các pháp làm nên quả Phật không chỉ có chừng ấy; ta sẽ xét thêm những pháp khác, là những pháp làm chín muồi giác ngộ.” Khi ấy, đang xét, ta thấy pháp thứ chín là từ ái toàn hảo, được các bậc đại ẩn sĩ xưa thực hành, gắn bó. Ngươi hãy nắm vững và giữ lấy pháp thứ chín này. Hãy là người không ai sánh bằng về tâm từ, nếu ngươi muốn đạt quả Giác Ngộ.” Như nước rửa sạch bụi bẩn, và đem lại sự mát mẻ cho người lành và kẻ ác một cách bình đẳng. Cũng vậy, ngươi hãy nuôi dưỡng tâm từ một cách bình đẳng đối với người thân và kẻ nghịch. Đi đến chỗ trọn vẹn của tâm từ, ngươi sẽ đạt quả Toàn Giác.” Nhưng các pháp làm nên quả Phật không chỉ có chừng ấy; ta sẽ xét thêm những pháp khác, là những pháp làm chín muồi giác ngộ.” Khi ấy, đang xét, ta thấy pháp thứ mười là hành xả toàn hảo, được các bậc đại ẩn sĩ xưa thực hành, gắn bó. Ngươi hãy nắm vững và giữ lấy pháp thứ mười này. Giữ thế cân bằng và vững chãi, ngươi sẽ đạt quả Toàn Giác.” Như trái đất bình thản trước vật dơ và vật sạch bị ném xuống, không rơi vào giận dữ cũng không ưu đãi. Cũng vậy, ngươi hãy luôn giữ thế cân bằng như cái cân, trước vui và khổ, đi đến chỗ trọn vẹn của tâm xả, ngươi sẽ đạt quả Toàn Giác.” Các pháp làm chín muồi giác ngộ trong thế gian chỉ có chừng ấy; không có pháp nào khác ngoài những pháp ấy. Hãy đứng vững trong các pháp ấy.” Trong khi ta suy nghiệm các pháp này về bản thể, tính chất và đặc điểm của chúng, do oai lực của các pháp, trái đất và mười ngàn thế giới rúng động. Trái đất lay động, gào thét, như máy ép mía bị vặn xoắn. Bánh xe của máy ép dầu rung chuyển thế nào, trái đất rung động như thế ấy. Cả đoàn người có mặt nơi dâng cúng thực phẩm cho đức Phật, run rẩy, choáng váng rồi nằm dài trên mặt đất tại nơi ấy. Hàng ngàn hũ nước và nhiều trăm chiếc lu, va chạm vào nhau, bị vỡ tan, nghiền nát tại nơi ấy. Tâm trí lo âu, sợ hãi, hoảng hốt, hồi hộp, bối rối, dân chúng tụ họp lại rồi đến gặp đức Phật Dīpaṅkara (hỏi rằng:) “Điều gì sẽ xảy ra cho thế gian? Là điều lành hay điều dữ? Cả thế gian bị khuấy động, xin bậc có mắt sáng hãy giải tỏa điều ấy.” Khi ấy, bậc Đại Hiền Triết Dīpaṅkara giải thích rõ cho họ: “Hãy yên tâm, đừng hoảng sợ về cơn động đất này. Người mà hôm nay ta đã tuyên bố sẽ thành Phật trong thế gian, người ấy đang suy nghiệm về Pháp đã được các đấng Chiến Thắng xưa thực hành. Trong khi vị ấy suy nghiệm về Pháp, là nền tảng của chư Phật, trọn vẹn không thiếu, vì thế trái đất này cùng mười ngàn thế giới và chư thiên đã rúng động.” Nghe lời đức Phật xong, tâm mọi người lập tức lắng dịu. Tất cả đến gần ta rồi lại đảnh lễ lần nữa. Sau khi thọ trì các đức hạnh của chư Phật và làm cho tâm kiên cố, ta cúi lạy đức Phật Dīpaṅkara và từ chỗ ngồi đứng dậy. Với những bông hoa, cả chư thiên và loài người rải hoa cõi trời và hoa của loài người xuống Sumedha đang đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Và cả chư thiên và loài người ấy nói lời chúc lành rằng: “Nguyện của ngài thật vĩ đại. Mong ngài đạt được điều ấy như ước muốn. Mong mọi rủi ro tránh xa ngài. Mong sầu não, bệnh tật tiêu tan. Mong không nguy hiểm nào đến với ngài. Ngài hãy mau đạt quả Giác Ngộ cao nhất.” Như cây hoa, đến mùa thì nở hoa; cũng vậy, thưa đấng Đại Hùng, xin ngài hãy nở hoa bằng trí tuệ của một vị Phật. Như mọi vị Toàn Giác đều làm trọn đủ mười pháp toàn hảo; cũng vậy, thưa đấng Đại Hùng, xin ngài hãy làm trọn đủ mười pháp toàn hảo. Như mọi vị Toàn Giác đã giác ngộ nơi khuôn viên cây Bồ Đề; cũng vậy, thưa đấng Đại Hùng, xin ngài hãy giác ngộ nơi cây Bồ Đề của đấng Chiến Thắng. Như mọi vị Toàn Giác đã chuyển bánh xe Pháp; cũng vậy, thưa đấng Đại Hùng, xin ngài hãy chuyển bánh xe Pháp. Như mặt trăng ngày rằm, trong sạch và tỏa sáng; cũng vậy, khi ngài đã trọn vẹn, xin hãy chiếu sáng mười ngàn thế giới. Như mặt trời thoát khỏi thần Rāhu (thần làm ra nhật thực), tỏa sáng rực rỡ vô cùng; cũng vậy, sau khi thoát khỏi thế gian, xin ngài hãy tỏa sáng vinh quang. Như mọi con sông đều chảy về biển cả; cũng vậy, các thế gian cùng chư thiên hãy xuôi về nơi Ngài.” Khi ấy, được họ tán dương, ca ngợi, vị ấy thọ trì mười pháp. Và trong khi làm trọn đủ các pháp ấy, vị ấy tiến vào rừng sâu.”
Hết phần nói về Sumedha.