Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Tiểu Bộ › Lịch Sử Đức Phật Piyadassī

Lịch Sử Đức Phật Piyadassī

15 Piyadassībuddhavaṁsa · BV15 · 110 đoạn

Chương kể về đức Phật Piyadassī: Ngài hoá giải tà kiến của Thiên Vương Sudassana, thuần phục voi Doṇamukha; thời của Ngài, Bồ-tát là Bà-la-môn Kassapa thông thạo ba bộ Vệ-đà, đã dùng một trăm ngàn koṭi xây tu viện cho hội chúng, quy y và thọ năm giới vững chắc, được thọ ký sẽ thành Phật sau một ngàn tám trăm kiếp. Ngài cao tám mươi cánh tay, hào quang vượt cả lửa, trăng và mặt trời, tuổi thọ chín mươi ngàn năm, nhập Niết-bàn tại tu viện Assattha với tháp cao ba do-tuần.

Điểm thực hành

Bà-la-môn Kassapa xây tu viện xong còn quy y và giữ năm giới thật vững — của cải cúng dường chỉ thành nền tảng khi đi kèm sự cam kết sống theo giới.

Phật Sử Lịch Sử Đức Phật Piyadassī

Sau (đức Phật) Sujāta, đấng Lãnh Đạo Thế Gian
Piyadassī là vị tự mình chứng ngộ,
khó thể đạt đến,
tương đương với các vị không thể sánh bằng, có danh tiếng vĩ đại.
Có danh tiếng vô hạn,
đức Phật ấy cũng chiếu sáng tợ như mặt trời.
Sau khi hủy diệt tất cả bóng tối,
Ngài đã chuyển vận bánh xe Chánh Pháp.
Đối với vị có oai lực vô song ấy,
cũng đã có ba sự lãnh hội.
Sự lãnh hội lần thứ nhất
là của một trăm ngàn koṭi vị.
Thiên Vương Sudassana
đã thuận theo tà kiến.
Trong khi xua tan tà kiến của vị ấy,
bậc Đạo Sư đã thuyết giảng Chánh Pháp.
Cuộc tụ hội của các hạng chúng sanh là vô song.
Khi ấy, đám đông đã tụ hội lại.
Đã có sự lãnh hội lần thứ nhì
là của chín mươi ngàn koṭi vị.
Vào lúc bậc Điều Khiển nhân loại
huấn luyện con voi Doṇamukha,
đã có sự lãnh hội lần thứ ba
là của tám mươi ngàn koṭi vị.
Vị Piyadassī ấy
cũng đã có ba lần tụ hội.
Cuộc hội tụ thứ nhất
là của một trăm ngàn koṭi vị.
Sau đó vào lúc khác,
chín mươi koṭi vị hiền triết đã hội họp chung lại với nhau.
Ở cuộc hội tụ thứ ba,
đã có tám mươi koṭi vị.
Vào lúc bấy giờ, ta là người thanh niên Bà-la-môn
tên Kassapa,
là vị trì tụng, nắm vững chú thuật,
thành thạo ba bộ Vệ Đà.
Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của vị (Phật) ấy,
ta đã sanh khởi niềm tin.
Với một trăm ngàn koṭi (đồng tiền)
ta đã tạo lập tu viện cho hội chúng.
Sau khi dâng cúng tu viện đến vị ấy,
ta trở nên mừng rỡ, có tâm trí phấn chấn,
đã tạo lập sự vững chãi trong việc nương nhờ
và đã thọ trì năm giới.
Đức Phật ấy, ngồi giữa hội chúng,
cũng đã chú nguyện cho ta rằng:
“Trong mười tám trăm (một ngàn tám trăm) kiếp,
người này sẽ trở thành vị Phật.
đức Như Lai ra sức nỗ lực

Nghĩa là

Sau đức Phật Sujāta, là vị tự mình chứng ngộ, đấng Lãnh Đạo Thế Gian, khó đạt đến, sánh bằng bậc vô song, Piyadassī, có danh tiếng vĩ đại. Đức Phật ấy, có danh tiếng vô hạn, cũng chiếu sáng như mặt trời. Sau khi dẹp tan mọi bóng tối, Ngài đã chuyển bánh xe Chánh Pháp. Đối với vị có oai lực vô song ấy, cũng đã có ba sự lãnh hội. là của một trăm ngàn koṭi vị. Sự lãnh hội lần thứ nhất Thiên Vương Sudassana đã thuận theo tà kiến. Trong khi xua tan tà kiến của vị ấy, bậc Đạo Sư đã thuyết giảng Chánh Pháp. Cuộc tụ hội của các chúng sinh là vô song, khi ấy đám đông đã tụ hội lại. là của chín mươi ngàn koṭi vị. Đã có lần lãnh hội thứ nhì Vào lúc con voi Doṇamukha bậc Điều Khiển nhân loại huấn luyện, là của tám mươi ngàn koṭi vị. đã có lần lãnh hội thứ ba Cũng có ba lần tụ hội, của vị Piyadassī ấy. là của một trăm ngàn koṭi vị. Lần hội tụ thứ nhất Sau đó vào lúc khác, chín mươi koṭi vị đã hội họp chung lại với nhau. Ở lần hội tụ thứ ba, đã có tám mươi koṭi vị. Vào lúc bấy giờ, ta là người thanh niên Bà-la-môn tên Kassapa, là vị trì tụng, nắm vững chú thuật, thành thạo ba bộ Vệ-đà. Sau khi nghe Giáo Pháp của vị ấy, ta đã sinh khởi niềm tin. Với một trăm ngàn koṭi (đồng tiền), ta đã tạo lập tu viện cho hội chúng. Sau khi dâng cúng tu viện đến vị ấy, ta trở nên mừng rỡ, có tâm trí phấn chấn, Trong việc quy y và năm giới, ta đã thọ trì một cách vững chắc. cũng thọ ký cho ta rằng: Đức Phật ấy, ngồi giữa hội chúng, “Trong một ngàn tám trăm kiếp, người này sẽ trở thành vị Phật. Sau khi đã nỗ lực tinh tấn,

(Bản Pāli rút gọn đoạn này bằng dấu lược; nội dung đầy đủ là phần còn lại của lời thọ ký quen thuộc: Ngài sẽ giác ngộ tại cây Assattha, mẹ tên Māyā, cha tên Suddhodana, hai vị Thanh Văn đứng đầu là Kolita và Upatissa, vị thị giả là Ānanda, hai vị nữ Thanh Văn đứng đầu là Khemā và Uppalavaṇṇā, hai nam thí chủ hộ độ đứng đầu là Citta và Haṭṭhāḷavaka, hai nữ thí chủ hộ độ đứng đầu là Nandamātā và Uttarā, tuổi thọ là một trăm năm. Nghe lời thọ ký ấy, chư thiên và nhân loại hoan hỷ, ví như người qua sông hụt bến trên thì nắm lấy bến dưới mà sang được sông lớn.)

thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Nghe được lời nói của vị ấy,
ta đã tăng thêm niềm tín tâm.
Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng
để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Thành phố có tên là Sudhañña,
vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Sudatta,
người mẹ của đấng Đạo Sư Piyadassī
tên là Sucandā.
Vị ấy đã sống ở giữa gia đình
trong chín ngàn năm.
Có ba tòa lâu đài tuyệt vời
là Sunimmala, Vimala, và Giribrahā.
Có ba mươi ba ngàn
phụ nữ được trang điểm.
Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Vimalā.
Con trai là Kañcanāvela.
Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu,
bậc Tối Thượng Nhân đã ra đi bằng phương tiện xe
và đã thực hành sự nỗ lực
sáu tháng.
Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu,
bậc Đại Hiền Triết, đấng Đại Hùng Piyadassī
đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp)
tại công viên Usabha xinh đẹp.
Pālita và Sabbadassī
đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu.
Vị thị giả của đấng Đạo Sư Piyadassī
tên là Sobhita.
Sujātā và Dhammadinnā
đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu.
Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy
được gọi tên là “Kakudha.”
Sandhaka và Dhammaka
đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu.
Visākhā và Dhammadinnā
đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Có danh tiếng vô hạn,
với ba mươi hai tướng trạng cao quý,
và chiều cao tám mươi cánh tay (80 x 0.5 = 40 m),
đức Phật ấy được nhìn thấy như là cây Sālā chúa.
Không có ánh sáng của ngọn lửa,
của mặt trăng hay mặt trời,
tương tợ như hào quang
của bậc Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng ấy.
Tuổi thọ của vị ấy
cũng dài như là (tuổi thọ) của các hàng thiên nhân.
Bậc Hữu Nhãn đã tồn tại ở thế gian
chín mươi ngàn năm.
Đức Phật ấy, vị tương đương với các bậc không thể sánh bằng,
luôn cả các đức hạnh vô song ấy,
tất cả đều hoàn toàn biết mất;
phải chăng tất cả các hành là trống không?
Đấng Hiền Triết cao quý Piyadassī ấy
đã Niết Bàn tại tu viện Assattha.
Ngôi bảo tháp của đấng Chiến Thắng dành cho vị ấy
đã được dựng lên cao ba do-tuần ở ngay tại nơi ấy.

Nghĩa là

chúng tôi sẽ gặp mặt vị kia.” Nghe lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tin. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ mười pháp toàn hảo. Thành phố tên là Sudhañña, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Sudatta, Người mẹ tên là Candā của đấng Đạo Sư Piyadassī. trong chín ngàn năm. Vị ấy đã sống giữa gia đình Sunimmala, Vimala và Giriguhā, là ba tòa lâu đài tuyệt vời. Có ba mươi ba ngàn phụ nữ được trang điểm. Người vợ tên là Vimalā. Con trai là Kañcanāveḷa (bản dịch ghi Kañcanāvela). Thấy bốn điềm báo, bậc Tối Thượng Nhân đã ra đi bằng phương tiện xe Sáu tháng nỗ lực hành trì, bậc Tối Thượng Nhân đã thực hành. Được Phạm Thiên thỉnh mời, bậc Đại Hiền Triết, đấng Đại Hùng Piyadassī, đã chuyển bánh xe Pháp tại công viên Usabha xinh đẹp. Pālita và Sabbadassī là hai vị Thanh Văn đứng đầu. Vị thị giả tên là Sobhita của đấng Đạo Sư Piyadassī. Sujātā và Dhammadinnā là hai vị nữ Thanh Văn đứng đầu. Cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là “Kakudha.” Sandhaka và Dhammaka là hai thí chủ hộ độ đứng đầu. Visākhā và Dhammadinnā là hai nữ thí chủ hộ độ đứng đầu. Có danh tiếng vô hạn, với ba mươi hai tướng cao quý, và chiều cao tám mươi cánh tay (bản dịch chua: 80 x 0,5 = 40 mét), đức Phật ấy trông như cây Sālā chúa. Của ngọn lửa, mặt trăng, mặt trời, không có hào quang nào như thế, như hào quang của bậc Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng ấy. Tuổi thọ của vị ấy, đấng Thượng Thiên trong các thiên nhân, cũng dài như là (tuổi thọ) của các hàng thiên nhân. chín mươi ngàn năm. Bậc Hữu Nhãn đã tồn tại ở thế gian Đức Phật ấy, vị không ai sánh bằng, luôn cả các đức hạnh vô song ấy, tất cả đều hoàn toàn biến mất (bản dịch ghi “biết mất”); phải chăng tất cả các hành là trống không? Đấng Hiền Triết cao quý Piyadassī, nhập Niết-bàn tại tu viện Assattha. Ngôi tháp của đấng Chiến Thắng dành cho vị ấy được dựng lên cao ba do-tuần ngay tại nơi ấy.”

Hết phần thứ mười ba: lịch sử đức Phật Piyadassī.