Lịch Sử Đức Phật Padumuttara
Chương kể về đức Phật Padumuttara, xuất hiện trong kiếp Maṇḍa và thọ ký rằng Bồ-tát sẽ thành Phật sau một trăm ngàn kiếp: khi ấy Bồ-tát là lãnh chúa Jaṭila dâng vải và thức ăn cho hội chúng. Ngài khiến các ngoại đạo mất chỗ dựa quay về nương tựa và an lập họ trong năm giới; thành phố là Haṁsavatī, cha là vua Ānanda, mẹ là Sujātā, cây Bồ Đề là Salala, tuổi thọ một trăm ngàn năm, tháp cao mười hai do-tuần tại tu viện Nandā.
Điểm thực hànhKhi những người từng đối nghịch tìm đến, đức Padumuttara an lập họ trong năm giới thay vì hạ nhục họ — hãy đáp lại sự chống đối bằng con đường thực hành cụ thể và lòng bi mẫn.
Phật Sử Lịch Sử Đức Phật Padumuttara
tên Padumuttara
là không bị chao động,
tương tợ như biển cả.
Và đức Phật đã sanh lên
vào kiếp Maṇḍa ấy.
Chúng sanh đã sanh lên
trong kiếp ấy là vô cùng tốt lành.
Trong khi đức Thế Tôn Padumuttara
thuyết giảng Giáo Pháp lần thứ nhất,
đã có sự lãnh hội Giáo Pháp
của một trăm ngàn koṭi vị.
Về sau vào lúc khác nữa,
trong lúc đổ xuống cơn mưa (Pháp)
khiến cho các hạng chúng sanh được hài lòng,
đã có sự lãnh hội lần thứ nhì là của ba mươi bảy trăm ngàn koṭi (ba triệu bảy trăm ngàn) vị.
Vào thời điểm đấng Đại Hùng
đi đến gặp (người cha là) Ānanda,
Ngài đã đi đến trong sự hiện diện của người cha
và đã gióng lên tiếng trống Bất Tử.
Khi tiếng trống Bất Tử đã được gióng lên
và trong khi cơn mưa Pháp Bảo đang rơi xuống,
đã có sự lãnh hội lần thứ ba
là của năm mươi trăm ngàn koṭi (năm triệu) vị.
Đức Phật là vị giáo giới,
là vị làm cho hiểu rõ,
là vị giúp cho tất cả chúng sanh vượt qua,
là vị thiện xảo về thuyết giảng; Ngài đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Bậc Đạo Sư Padumuttara
đã có ba lần tụ hội.
Cuộc hội tụ thứ nhất
là của một trăm ngàn koṭi vị.
Khi đức Phật, vị tương đương với các bậc không thể sánh bằng,
cư ngụ ở tại ngọn núi Vebhāra,
đã có cuộc hội tụ thứ nhì
của chín mươi ngàn koṭi vị.
Hơn nữa,
trong khi ra đi du hành
từ các làng mạc, thị trấn, và quốc độ,
đã có cuộc hội tụ thứ ba của tám mươi ngàn koṭi vị.
Vào lúc bấy giờ, ta là vị lãnh chúa
tên Jaṭila.
Ta đã cúng dường vải cùng với bữa ăn
đến hội chúng (tỳ khưu) có bậc Toàn Giác đứng đầu.
Đức Phật ấy, ngồi giữa hội chúng,
cũng đã chú nguyện cho ta rằng:
“Trong một trăm ngàn kiếp tính từ thời điểm này,
người này sẽ trở thành vị Phật.
đức Như Lai ra sức nỗ lực
Nghĩa là
Sau đức Phật Nārada, có đấng Toàn Giác, bậc Tối Thượng Nhân, tên Padumuttara, không bị chao động, như biển cả. Đó là một kiếp Maṇḍa, khi đức Phật sinh ra trong kiếp ấy. Dân chúng sinh ra trong kiếp ấy có phước đức dồi dào. Khi đức Thế Tôn Padumuttara thuyết giảng Giáo Pháp lần thứ nhất, của một trăm ngàn koṭi vị. đã có sự lãnh hội Giáo Pháp Về sau, vào lúc khác nữa, trong lúc đổ xuống cơn mưa Pháp khiến các chúng sinh được hài lòng, của ba triệu bảy trăm ngàn vị (bản dịch thêm chữ koṭi), đã có lần lãnh hội thứ nhì. Vào thời điểm đấng Đại Hùng đi đến gặp (người cha là) Ānanda, Ngài đã đi đến trong sự hiện diện của người cha và đã gióng lên tiếng trống Bất Tử. Khi tiếng trống Bất Tử đã được gióng lên và trong khi cơn mưa Pháp đang rơi xuống, là của năm triệu vị (bản dịch thêm chữ koṭi). đã có lần lãnh hội thứ ba Đức Phật là bậc giáo giới, là vị làm cho hiểu rõ, là vị giúp tất cả chúng sinh vượt qua, là vị khéo thuyết giảng; là vị khéo thuyết giảng; Ngài đã giúp nhiều chúng sinh vượt qua. Có ba lần tụ hội, của bậc Đạo Sư Padumuttara. là của một trăm ngàn koṭi vị. Lần tụ hội thứ nhất Khi đức Phật, vị không ai sánh bằng, cư ngụ ở tại ngọn núi Vebhāra, của chín mươi ngàn koṭi vị. đã có lần tụ hội thứ nhì Hơn nữa, trong khi ra đi du hành từ các làng mạc, thị trấn, và quốc độ, của tám mươi ngàn koṭi vị, đã có lần tụ hội thứ ba. Vào lúc bấy giờ, ta là vị lãnh chúa tên Jaṭila. đến hội chúng (Tỷ-kheo) có bậc Toàn Giác đứng đầu. Ta đã cúng dường vải cùng với bữa ăn cũng thọ ký cho ta rằng: Đức Phật ấy, ngồi giữa hội chúng, “Trong một trăm ngàn kiếp kể từ nay, người này sẽ trở thành vị Phật. Sau khi đã nỗ lực tinh tấn,
(Bản Pāli rút gọn đoạn này bằng dấu lược; nội dung đầy đủ là phần còn lại của lời thọ ký quen thuộc: Ngài sẽ giác ngộ tại cây Assattha, mẹ tên Māyā, cha tên Suddhodana, hai vị Thanh Văn đứng đầu là Kolita và Upatissa, vị thị giả là Ānanda, hai vị nữ Thanh Văn đứng đầu là Khemā và Uppalavaṇṇā, hai nam thí chủ hộ độ đứng đầu là Citta và Haṭṭhāḷavaka, hai nữ thí chủ hộ độ đứng đầu là Nandamātā và Uttarā, tuổi thọ là một trăm năm. Nghe lời thọ ký ấy, chư thiên và nhân loại hoan hỷ, ví như người qua sông hụt bến trên thì nắm lấy bến dưới mà sang được sông lớn.)
Nghe được lời nói của vị ấy,
ta đã quyết định sự thực hành tối thắng.
Ta đã thực hiện sự nỗ lực vô cùng bền bĩ
để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Khi ấy, tất cả các người ngoại đạo bị ruồng bỏ
trở nên hốt hoảng, có tâm trí chán nản.
Đối với bọn họ, không còn có người nào phục vụ.
Mọi người xua đuổi họ ra khỏi quốc độ.
Tất cả đã tụ hội lại tại nơi ấy
và đã đi đến gặp đức Phật (nói rằng):
“Bạch đấng Đại Hùng, ngài là vị lãnh đạo.
Hỡi bậc Hữu Nhãn, ngài hãy là chốn nương nhờ.”
Bậc có lòng thương xót, đấng Bi Mẫn,
vị tầm cầu lợi ích cho tất cả chúng sanh
đã an trú vào năm giới cấm
cho tất cả những người ngoại đạo đã đi đến (với Ngài).
Như thế, Giáo Pháp đã không bị pha trộn,
không còn các ngoại đạo,
và được tô điểm bởi các vị A-la-hán
ở vào trạng thái thu thúc như thế ấy.
Thành phố có tên là Haṁsavatī,
vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Ānanda,
người mẹ của vị Đại Ẩn Sĩ Padumuttama
tên là Sujātā.
Vị ấy đã sống ở giữa gia đình
mười ngàn năm.
Có ba tòa lâu đài tuyệt vời
là Naravāhana, Yasa, và Yasavatti.
Có bốn mươi ba ngàn
phụ nữ được trang điểm.
Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Vasuladattā.
Con trai tên là Uttara.
Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu,
bậc Tối Thượng Nhân đã ra đi bằng tòa lâu đài
và đã thực hành hạnh nỗ lực
bảy ngày.
Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu,
vị Hướng Đạo, đấng Đại Hùng Padumuttara
đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp)
ở công viên tuyệt vời Mithila.
Devala và Sujāta
đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu.
Vị thị giả của bậc Đạo Sư Padumuttara
tên là Sumana.
Amitā và luôn cả Asamā
đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu.
Cội Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy
được gọi tên là “Salala.”
Vitiṇṇa và luôn cả Tissa
đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu.
Haṭṭhā và luôn cả Vicittā
đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Đạt đến năm mươi tám ratana
(14 mét rưỡi)
về chiều cao, đấng Đại Hiền Triết
với ba mươi hai tướng trạng cao quý tương tợ như cột trụ bằng vàng có gắn tràng hoa.
Các tường thành, cửa lớn,
vách đất, cây cối, mỏm đá
ở xung quanh mười hai do-tuần
không có che khuất vị ấy.
Tuổi thọ được biết
là kéo dài đến một trăm ngàn năm.
Trong khi tồn tại đến chừng ấy,
vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Sau khi đã giúp cho nhiều người vượt qua,
sau khi đã cắt đứt tất cả các điều nghi hoặc,
vị ấy đã rực cháy như là khối lửa
rồi đã Niết Bàn cùng với các vị Thinh Văn.
Đức Phật, đấng Chiến Thắng Padumuttara
đã Niết Bàn tại tu viện Nandā.
Ngôi bảo tháp cao quý dành cho vị ấy
có chiều cao mười hai do-tuần ở ngay tại nơi ấy.
Nghĩa là
chúng tôi sẽ gặp mặt vị kia.” Nghe lời nói của vị ấy, ta đã quyết định sự thực hành tối thắng. Ta đã thực hiện sự nỗ lực vô cùng bền bỉ để làm trọn đủ mười pháp toàn hảo. Khi ấy, tất cả các ngoại đạo bị ruồng bỏ trở nên hốt hoảng, có tâm trí chán nản. Đối với bọn họ, không còn có người nào phục vụ. Mọi người xua đuổi họ ra khỏi quốc độ. Tất cả đã tụ hội lại tại nơi ấy và đã đi đến gặp đức Phật (nói rằng): “Bạch đấng Đại Hùng, ngài là vị lãnh đạo. Này bậc Hữu Nhãn, ngài hãy là chốn nương nhờ.” Bậc có lòng thương xót, đấng Bi Mẫn, vị tầm cầu lợi ích cho tất cả chúng sinh tất cả những người ngoại đạo đã đi đến (với Ngài). đã an lập vào năm giới Như thế, Giáo Pháp đã không bị pha trộn, không còn các ngoại đạo, và được tô điểm bởi các vị A-la-hán ở vào trạng thái thu thúc (đã thuần phục) như thế ấy. Thành phố tên là Haṁsavatī, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Ānanda, Người mẹ tên là Sujātā của bậc Đạo Sư Padumuttara. mười ngàn năm. Vị ấy đã sống giữa gia đình Naravāhana, Yasa và Vasavattī, là ba tòa lâu đài tuyệt vời. Có bốn mươi ba ngàn phụ nữ được trang điểm. Người vợ tên là Vasudattā (bản dịch ghi Vasuladattā). Con trai tên là Uttama (bản dịch ghi Uttara). Thấy bốn điềm báo, bậc Tối Thượng Nhân đã ra đi bằng tòa lâu đài trong bảy ngày, thực hành hạnh nỗ lực bậc Tối Thượng Nhân đã thực hành. Được Phạm Thiên thỉnh mời, vị Hướng Đạo, đấng Đại Hùng Padumuttara, đã chuyển bánh xe Pháp ở công viên tuyệt vời Mithila. Devala và Sujāta là hai vị Thanh Văn đứng đầu. Vị thị giả tên là Sumana của bậc Đại Ẩn Sĩ Padumuttara. Amitā và Asamā là hai vị nữ Thanh Văn đứng đầu. Cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là “Salala.” Vitiṇṇa và Tissa là hai thí chủ hộ độ đứng đầu. Haṭṭhā và Vicittā là hai nữ thí chủ hộ độ đứng đầu. Đạt đến năm mươi tám ratana Bậc Đại Hiền Triết cao vời (bản dịch chua: 14 mét rưỡi), như cột trụ bằng vàng có gắn tràng hoa, có ba mươi hai tướng cao quý. Các tường thành, cửa lớn, vách đất, cây cối, mỏm đá không có che khuất vị ấy. ở xung quanh mười hai do-tuần là một trăm ngàn năm. Tuổi thọ được biết Sống đến chừng ấy, vị ấy đưa nhiều chúng sinh vượt qua (bờ mê). Sau khi đã giúp cho nhiều người vượt qua, sau khi đã cắt đứt tất cả các điều nghi hoặc, vị ấy đã rực cháy như là khối lửa rồi đã nhập Niết-bàn cùng với các vị Thanh Văn. Đức Phật, đấng Chiến Thắng Padumuttara, nhập Niết-bàn tại tu viện Nandā. Ngôi tháp cao quý dành cho vị ấy cao mười hai do-tuần ngay tại nơi ấy.”
Hết phần thứ mười: lịch sử đức Phật Padumuttara.