Kinh Sự Trói Buộc (2)
Bài đối tác của 8.17: tám cách người nam trói buộc người nữ — cùng một danh sách (nước mắt, cười, lời nói, dáng vẻ, quà hoa rừng, hương, vị, xúc chạm) và cùng một kết luận: xúc chạm trói chắc nhất. Bản Minh Châu cũng dùng một danh sách khác (sắc lên đầu) cho bài này; bản soạn theo Pāli Bilara.
Điểm thực hànhViệc kinh đặt hai bài đối xứng cạnh nhau mới là thông điệp: sự trói buộc không phải tính chất của một giới, mà là cơ chế của tiếp xúc giữa hai phía đều có cảm giác. Đọc cả đôi, bài kinh hết là lời cảnh báo về ‘người kia’ và thành một quan sát về chính cơ chế dính mắc trong mình.
Phẩm Lớn Kinh Sự Trói Buộc (2) “Với tám hình tướng, này các Tỷ-kheo, người nam trói buộc người nữ. Tám hình tướng nào? Bằng nước mắt, này các Tỷ-kheo, người nam trói buộc người nữ; Bằng tiếng cười, này các Tỷ-kheo, người nam trói buộc người nữ; Bằng lời nói, này các Tỷ-kheo, người nam trói buộc người nữ; Bằng dáng vẻ, này các Tỷ-kheo, người nam trói buộc người nữ; Bằng món quà hoa rừng, này các Tỷ-kheo, người nam trói buộc người nữ; Bằng hương thơm, này các Tỷ-kheo, người nam trói buộc người nữ; Bằng vị ngon, này các Tỷ-kheo, người nam trói buộc người nữ; Bằng sự xúc chạm, này các Tỷ-kheo, người nam trói buộc người nữ. Với tám hình tướng này, này các Tỷ-kheo, người nam trói buộc người nữ.
Những chúng sinh bị trói buộc bằng sự xúc chạm, này các Tỷ-kheo, là những chúng sinh bị trói buộc thật chắc.” Bài thứ 8.