Kinh Bốn Vô Ngại Giải (2)
Kinh này áp dụng nguyên văn bảy khả năng quan sát tâm của kinh trước vào Tôn giả Sāriputta: chính nhờ biết đúng như thật các trạng thái của tâm, biết ba chặng sinh — trú — diệt của cảm thọ, tưởng và suy nghĩ, và nắm vững dấu hiệu của các pháp, mà Sāriputta đã chứng đạt bốn vô ngại giải.
Điểm thực hànhHãy chọn một vị thầy hay một bậc đi trước mà mình kính trọng và học theo đúng một thói quen quan sát tâm của họ, thay vì chỉ ngưỡng mộ chung chung.
Phẩm Chư Thiên Kinh Bốn Vô Ngại Giải (2) “Này các Tỷ-kheo (vị tu sĩ khất thực), Sāriputta có bảy tính này nên đã tự mình chứng ngộ bằng hiểu biết trực tiếp, chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải (bốn khả năng phân tích thấu suốt). Bảy tính nào? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Sāriputta biết đúng như thật rằng: “Đây là sự thụ động của tâm ta”; khi tâm co rút vào trong, Sāriputta biết đúng như thật: “Tâm ta đang co rút vào trong”; khi tâm tán loạn ra ngoài, Sāriputta biết đúng như thật: “Tâm ta đang tán loạn ra ngoài”; Sāriputta biết các cảm thọ khi chúng sinh khởi, biết khi chúng đang có mặt, biết khi chúng biến mất; Sāriputta biết các tưởng khi chúng sinh khởi, biết khi chúng đang có mặt, biết khi chúng biến mất; Sāriputta biết các suy nghĩ khi chúng sinh khởi, biết khi chúng đang có mặt, biết khi chúng biến mất; đối với các pháp thích hợp hay không thích hợp, thấp kém hay cao quý, thuộc phía đen hay thuộc phía trắng, Sāriputta nắm vững dấu hiệu của chúng, chú tâm đúng, ghi nhớ kỹ và thấu hiểu bằng tuệ.
Này các Tỷ-kheo, Sāriputta có bảy tính này nên đã tự mình chứng ngộ bằng hiểu biết trực tiếp, chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải.” Bài thứ 8.