Kinh Thầy Giáo Thọ
Một Tỷ-kheo thưa với thầy giáo thọ rằng thân như bị say thuốc, mất phương hướng, pháp không hiện rõ, hôn trầm chiếm tâm, không hoan hỷ với Phạm hạnh và nghi ngờ các pháp. Đức Phật chỉ ra năm nguyên nhân — không hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chuyên cần tỉnh thức, không quán xét các pháp lành, không tu tập các pháp giác ngộ đầu đêm cuối đêm — rồi vị ấy tu tập theo năm điều ngược lại và chứng A-la-hán.
Điểm thực hànhKhi tâm uể oải, pháp mờ mịt, hãy kiểm năm gốc: hộ trì các căn, tiết độ ăn uống, tỉnh thức, quán xét pháp lành, tu tập pháp giác ngộ.
Phẩm Triền Cái Kinh Thầy Giáo Thọ Bấy giờ, một Tỷ-kheo đi đến thầy giáo thọ của mình và thưa: — Bạch Ngài, nay thân con như bị say thuốc, các phương hướng không hiện rõ với con, các pháp không hiện ra trong tâm con, dã dượi và buồn ngủ chiếm giữ tâm con, con không hoan hỷ với Phạm hạnh, và con có những nghi ngờ đối với các pháp. Rồi vị Tỷ-kheo ấy dẫn người đệ tử đồng trú của mình đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên, và thưa Đức Phật: — Bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo này nói như sau: — Bạch Ngài, nay thân con như bị say thuốc, các phương hướng không hiện rõ với con, các pháp không hiện ra trong tâm con, dã dượi và buồn ngủ chiếm giữ tâm con, con không hoan hỷ với Phạm hạnh, và con có những nghi ngờ đối với các pháp.
Đức Phật nói: — Đúng vậy, này Tỷ-kheo, điều ấy xảy ra khi các căn không được hộ trì, ăn uống không biết tiết độ, không chuyên cần tỉnh thức, không quán xét các pháp lành, và đầu đêm cuối đêm không chuyên tâm tu tập các pháp phần giác ngộ. Do vậy, này Tỷ-kheo, Thầy cần tu tập như sau: “Ta sẽ hộ trì các căn, biết tiết độ trong ăn uống, chuyên cần tỉnh thức, quán xét các pháp lành, và đầu đêm cuối đêm chuyên tâm tu tập các pháp phần giác ngộ.” Thầy cần tu tập như vậy. Vị Tỷ-kheo ấy, sau khi được Đức Phật giáo giới như vậy, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Đức Phật, đi quanh Ngài giữ phía bên phải, rồi ra đi. Rồi vị Tỷ-kheo ấy sống một mình, viễn ly, không buông lung, tinh cần, nhiệt tâm, tự mình nỗ lực; không bao lâu sau, vị ấy tự mình chứng ngộ và đạt đến mục đích tối thượng của Phạm hạnh — mục đích mà những người con nhà lành chính đáng xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến — ngay trong đời này.
Vị ấy hiểu rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.” Và vị Tỷ-kheo ấy trở thành một trong các bậc A-la-hán. Sau khi chứng A-la-hán, vị Tỷ-kheo ấy đi đến thầy giáo thọ của mình và thưa: — Bạch Ngài, nay thân con không còn như bị say thuốc, các phương hướng hiện rõ với con, các pháp hiện ra trong tâm con, dã dượi và buồn ngủ không còn chiếm giữ tâm con, con hoan hỷ với Phạm hạnh, và con không còn nghi ngờ đối với các pháp. Rồi vị Tỷ-kheo ấy dẫn người đệ tử đồng trú của mình đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên, và thưa Đức Phật: — Bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo này nói như sau: — Bạch Ngài, nay thân con không còn như bị say thuốc, các phương hướng hiện rõ với con, các pháp hiện ra trong tâm con, dã dượi và buồn ngủ không còn chiếm giữ tâm con, con hoan hỷ với Phạm hạnh, và con không còn nghi ngờ đối với các pháp.
Đức Phật nói: — Đúng vậy, này Tỷ-kheo, điều ấy xảy ra khi các căn được hộ trì, ăn uống biết tiết độ, chuyên cần tỉnh thức, quán xét các pháp lành, và đầu đêm cuối đêm chuyên tâm tu tập các pháp phần giác ngộ. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần tu tập như sau: “Chúng ta sẽ hộ trì các căn, biết tiết độ trong ăn uống, chuyên cần tỉnh thức, quán xét các pháp lành, và đầu đêm cuối đêm chuyên tâm tu tập các pháp phần giác ngộ.” Này các Tỷ-kheo, các Thầy cần tu tập như vậy. Bài thứ 6.