Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Tăng Chi Bộ › Kinh Các Cách Tu Tập Định

Kinh Các Cách Tu Tập Định

Samādhibhāvanāsutta · AN4.41 · 36 đoạn

Đức Phật dạy bốn hướng tu tập định, mỗi hướng đưa đến một quả khác nhau: an trú bốn tầng thiền đem lại an lạc ngay trong hiện tại; tu ánh sáng tưởng, giữ tâm sáng chói ngày đêm như nhau, đưa đến tri kiến; biết rõ cảm thọ, tưởng và tầm khi chúng sinh, trú và diệt đưa đến chánh niệm tỉnh giác; còn quán sinh diệt trong năm thủ uẩn đưa đến đoạn tận các lậu hoặc. Bài kinh chốt bằng câu kệ của “Các câu hỏi của Puṇṇaka”: người đã cân nhắc hết hơn thua của đời thì không còn gì lay động được, và đã vượt qua sinh già.

Điểm thực hành

Hãy chọn một hướng định cho buổi ngồi thiền hôm nay theo đúng nhu cầu: nếu tâm đang xao động, đi vào an lạc của thiền; nếu tâm đang mờ tối, mở mắt nhìn ánh sáng rồi khép lại giữ tưởng sáng; nếu muốn rèn tỉnh giác, chỉ theo dõi một cảm thọ từ lúc sinh đến lúc diệt.

Phẩm Rohitassa Kinh Các Cách Tu Tập Định — Này các Tỷ-kheo, có bốn cách tu tập định này. Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, có cách tu tập định, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến an lạc ngay trong hiện tại; này các Tỷ-kheo, có cách tu tập định, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng đắc tri kiến; này các Tỷ-kheo, có cách tu tập định, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chánh niệm và tỉnh giác; này các Tỷ-kheo, có cách tu tập định, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến đoạn tận các lậu hoặc (những ô nhiễm sâu trong tâm). Và này các Tỷ-kheo, thế nào là cách tu tập định đưa đến an lạc ngay trong hiện tại?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo tách ly khỏi các dục, tách ly khỏi các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sinh, có tầm, có tứ; vượt qua tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sinh, không tầm, không tứ, tâm nội tĩnh, nhất tâm; ly tham đối với hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “xả niệm lạc trú”, chứng và trú thiền thứ ba; sau khi từ bỏ lạc và khổ, với hỷ và ưu đã cảm thọ trước đây đã chấm dứt, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây là cách tu tập định, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến an lạc ngay trong hiện tại.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là cách tu tập định đưa đến chứng đắc tri kiến? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo chú tâm vào tưởng ánh sáng, an trú vào tưởng ban ngày: ngày như thế nào thì đêm như vậy, đêm như thế nào thì ngày như vậy. Như vậy, với tâm rộng mở, không bị bao phủ, vị ấy tu tập cho tâm mình trở nên sáng chói. Này các Tỷ-kheo, đây là cách tu tập định, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng đắc tri kiến. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là cách tu tập định đưa đến chánh niệm và tỉnh giác? Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với vị Tỷ-kheo, các cảm thọ sinh khởi được rõ biết, đang hiện hữu được rõ biết, đi đến tàn lụi được rõ biết; các tưởng sinh khởi được rõ biết, đang hiện hữu được rõ biết, đi đến tàn lụi được rõ biết; các tầm sinh khởi được rõ biết, đang hiện hữu được rõ biết, đi đến tàn lụi được rõ biết.

Này các Tỷ-kheo, đây là cách tu tập định, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chánh niệm và tỉnh giác. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là cách tu tập định đưa đến đoạn tận các lậu hoặc? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo sống quán sát sự sinh và diệt trong năm thủ uẩn: “Đây là sắc, đây là sắc sinh khởi, đây là sắc tàn lụi; đây là thọ, đây là thọ sinh khởi, đây là thọ tàn lụi; đây là tưởng, đây là tưởng sinh khởi, đây là tưởng tàn lụi; đây là các hành, đây là các hành sinh khởi, đây là các hành tàn lụi; đây là thức, đây là thức sinh khởi, đây là thức tàn lụi.” Này các Tỷ-kheo, đây là cách tu tập định, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến đoạn tận các lậu hoặc.

Này các Tỷ-kheo, đó là bốn cách tu tập định. Và chính về điều này mà trong “Con đường đến bờ bên kia”, ở “Các câu hỏi của Puṇṇaka”, Ta đã nói:

Do tư sát, ở đời, Các sự vật thắng, liệt,
Không vật gì ở đời, Làm vị ấy dao động.
An tịnh, không mờ mịt, Không phiền não, không tham,
Ta nói vị ấy vượt, Qua khỏi sanh và già.

Nghĩa là

“Sau khi đã cân nhắc kỹ càng mọi hơn thua trong đời, không còn điều gì trên đời có thể làm vị ấy dao động. An tịnh, không bị ám ảnh, không phiền não, không còn mong cầu, Ta tuyên bố vị ấy đã vượt qua sinh và già.”

Bài thứ 1.