Kinh Nghiệp
Đức Phật đối chiếu hai cách sống qua bốn kênh hành động: kẻ ngu mang thân, khẩu, ý nghiệp có tội cùng tri kiến có tội thì tự làm mình tổn thương, đáng bị người trí quở trách và tạo nhiều điều phi công đức; người trí giữ cả bốn kênh không có tội thì tự mình nguyên vẹn và tạo nhiều công đức. Bài kinh khép lại phẩm Thắng Tri kèm kệ tóm tắt mười bài kinh của phẩm.
Điểm thực hànhGiữ mình 'nguyên vẹn' không cần việc lớn: chỉ cần soi bốn kênh — thân làm gì, miệng nói gì, ý nghĩ gì, và mình đang tin vào điều gì.
26. Phẩm Thắng Tri
Kinh Nghiệp
Tiêu đề bộ kinh và số thứ tự của bài kinh. Tên phẩm thứ hai mươi sáu. Tên bài kinh: nghiệp có tội và không có tội.
Bốn pháp nào?
Thân nghiệp có tội, khẩu nghiệp có tội, ý nghiệp có tội và tri kiến có tội —
này các Tỷ-kheo, thành tựu bốn pháp này, kẻ ngu, không thông thạo, không phải bậc chân nhân, tự mang lấy cái tôi đã bị tổn thương và hư hoại, có tội, đáng bị người trí quở trách, và tạo ra nhiều điều phi công đức.
Bốn pháp khiến kẻ ngu tự hại mình: mở đầu. Hỏi về bốn pháp. Bốn loại nghiệp và tri kiến có tội. Kết luận phần kẻ ngu.
Bốn pháp nào?
Thân nghiệp không có tội, khẩu nghiệp không có tội, ý nghiệp không có tội và tri kiến không có tội —
này các Tỷ-kheo, thành tựu bốn pháp này, người trí, thông thạo, là bậc chân nhân, tự mang lấy cái tôi không bị tổn thương và không bị hư hoại, không có tội, không đáng bị người trí quở trách, và tạo ra nhiều công đức.”
Bài thứ 10.
Phẩm Thắng Tri là phẩm thứ sáu.
Ngược lại: người trí giữ mình nguyên vẹn bằng bốn pháp không tội. Hỏi về bốn pháp. Bốn loại nghiệp và tri kiến không có tội. Kết luận bài kinh. Kết thúc bài kinh thứ mười của phẩm. Dòng kết phẩm.
Phần kệ tóm tắt
Kinh Bốn Pháp Thu Nhiếp và Kinh Mālukyaputta;
Kinh Gia Đình và hai Kinh Con Ngựa Thuần Chủng,
Kinh Bốn Sức Mạnh, Kinh Rừng Sâu và Kinh Nghiệp.
Kệ tóm tắt nhắc hai bài kinh đầu của phẩm. Kệ tóm tắt nhắc bài về bốn pháp thu nhiếp và Mālukyaputta. Kệ tóm tắt nhắc bài gia đình và cặp bài con ngựa thuần chủng. Kệ tóm tắt khép lại với ba bài cuối của phẩm.