Kinh Anuruddha (2)
Tôn giả Anuruddha đến thưa với Tôn giả Sāriputta rằng dù thiên nhãn của ngài thấy được ngàn thế giới, tinh tấn, niệm, thân và tâm đều tốt, tâm ngài vẫn chưa giải thoát khỏi lậu hoặc vì còn chấp thủ. Sāriputta chỉ rõ: nghĩ về thiên nhãn là kiêu mạn, nghĩ về sự tu tập của mình là bồn chồn, nghĩ về việc chưa giải thoát là hối tiếc; buông ba điều ấy và hướng tâm vào yếu tố bất tử thì tốt. Anuruddha làm theo và không bao lâu chứng quả A-la-hán.
Điểm thực hànhKhi tự hào về khả năng của mình là kiêu mạn, khi khoe sự tu tập của mình là bồn chồn, khi day dứt vì chưa giải thoát là hối tiếc — buông cả ba và hướng tâm vào yếu tố bất tử.
Phẩm Kusinārā Kinh Anuruddha (2) Bấy giờ Tôn giả Anuruddha đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta; đến nơi, ngài chào hỏi Tôn giả Sāriputta. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật xong, ngài ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên rồi, Tôn giả Anuruddha nói với Tôn giả Sāriputta: “Thưa Tôn giả Sāriputta, ở đây, với thiên nhãn trong sạch, vượt hơn người thường, tôi nhìn thấy được ngàn thế giới. Tinh tấn của tôi đã được khơi dậy, không chùng xuống; niệm được an trú, không bị lãng quên; thân được thư giãn, không căng thẳng; tâm được định tĩnh, nhất tâm. Vậy mà tâm của tôi vẫn chưa được giải thoát khỏi các lậu hoặc (những ô nhiễm sâu trong tâm), vì còn chấp thủ.”
“Này Hiền giả Anuruddha, khi Hiền giả nghĩ như vầy: ‘Với thiên nhãn trong sạch, vượt hơn người thường, tôi nhìn thấy được ngàn thế giới’ — đó là kiêu mạn của Hiền giả. Và này Hiền giả Anuruddha, khi Hiền giả nghĩ như vầy: ‘Tinh tấn của tôi đã được khơi dậy, không chùng xuống; niệm được an trú, không bị lãng quên; thân được thư giãn, không căng thẳng; tâm được định tĩnh, nhất tâm’ — đó là sự bồn chồn của Hiền giả. Và này Hiền giả Anuruddha, khi Hiền giả nghĩ như vầy: ‘Vậy mà tâm của tôi vẫn chưa được giải thoát khỏi các lậu hoặc, vì còn chấp thủ’ — đó là sự hối tiếc của Hiền giả. Thật tốt nếu Tôn giả Anuruddha từ bỏ ba điều này, không để ý đến ba điều này, và hướng tâm vào yếu tố bất tử.”
Sau một thời gian, Tôn giả Anuruddha từ bỏ ba điều này, không để ý đến ba điều này, và hướng tâm vào yếu tố bất tử. Rồi Tôn giả Anuruddha, sống một mình, tách riêng, không buông lung, nhiệt tâm, quyết tâm, không bao lâu đã tự mình, bằng hiểu biết trực tiếp, ngay trong đời này chứng ngộ, đạt đến và an trú trong đích cuối cao nhất của đời sống phạm hạnh — đích mà các thiện nam tử, đúng đường, xuất gia từ bỏ gia đình sống đời không nhà, hướng đến. Ngài hiểu rõ: “Sinh đã dứt, đời sống phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.” Và Tôn giả Anuruddha trở thành một vị A-la-hán. Bài thứ 8.