Ananda Và Du Sĩ Kokanuda: Tôi Biết, Tôi Thấy
Bên bờ suối nước nóng Tapodā, du sĩ Kokanuda hỏi Tôn giả Ānanda có giữ mười kiến chấp về thế giới và Như Lai sau khi chết hay không. Tôn giả đều nói mình không có những kiến ấy, nhưng cũng khẳng định mình biết và thấy: biết cho đến đâu là kiến, đâu là nơi trú, chỗ bám, sự ám ảnh, sự sinh khởi và sự nhổ bật gốc của kiến — vì tất cả những kiến ấy đều chỉ là tà kiến. Nghe xong, Kokanuda nhận ra mình đang đối thoại với một bậc thầy lớn và xin được tha lỗi vì đã nói nhiều.
Điểm thực hànhKhông cần giữ một “kiến” nào về vũ trụ để được gọi là biết; biết rõ kiến sinh từ đâu, bám vào đâu và nhổ bật gốc bằng cách nào — đó mới là sự biết đáng giá.
Phẩm Upāli Kinh Kokanuda Một thời, Tôn giả Ānanda ở tại Rājagaha, trong khu vườn bên suối nước nóng Tapodā. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda thức dậy vào lúc trời vừa sáng, đi đến suối Tapodā để tắm rửa tay chân. Sau khi tắm rửa ở suối Tapodā và bước lên bờ, Tôn giả đứng đắp một chiếc y, để hong khô tay chân. Du sĩ Kokanuda cũng thức dậy vào lúc trời vừa sáng, đi đến suối Tapodā để tắm rửa tay chân. Du sĩ Kokanuda từ xa đã thấy Tôn giả Ānanda đang đi đến. Thấy vậy, ông nói với Tôn giả Ānanda: — “Vị ở đây là ai, thưa Hiền giả?” — “Thưa Hiền giả, tôi là Tỷ-kheo (vị tu sĩ khất thực).” — “Thưa Hiền giả, ông thuộc về những Tỷ-kheo nào?” — “Thưa Hiền giả, thuộc về các Sa-môn dòng họ Thích.”
— “Chúng tôi muốn hỏi Hiền giả một vài điều, nếu Hiền giả cho chúng tôi cơ hội để được trả lời câu hỏi.” — “Xin Hiền giả cứ hỏi; sau khi nghe, chúng tôi sẽ biết.” — “Thưa Hiền giả, có phải kiến của Hiền giả là như vầy: “Thế giới là thường còn. Chỉ kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng”?” Thưa Hiền giả, tôi không có kiến như vậy: “Thế giới là thường còn. Chỉ kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng.” — “Vậy có phải kiến của Hiền giả là: “Thế giới không thường còn. Chỉ kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng”?” Thưa Hiền giả, tôi không có kiến như vậy: “Thế giới không thường còn. Chỉ kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng.”
— “Vậy có phải kiến của Hiền giả là: “Thế giới có biên giới.” “Thế giới không có biên giới.” “Mạng sống và thân thể là một.” “Mạng sống là một đằng, thân thể là một nẻo.” “Như Lai còn tồn tại sau khi chết.” “Như Lai không còn tồn tại sau khi chết.” “Như Lai vừa còn tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết.” “Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết. Chỉ kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng”?” Thưa Hiền giả, tôi không có kiến như vậy: “Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết. Chỉ kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng.” — “Vậy thì Hiền giả không biết, Hiền giả không thấy chăng?” — “Thưa Hiền giả, không phải tôi không biết, không phải tôi không thấy.
Thưa Hiền giả, tôi có biết, tôi có thấy.” — “Khi được hỏi: “Thưa Hiền giả, có phải kiến của Hiền giả là như vầy: “Thế giới là thường còn. Chỉ kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng”?” — được hỏi như vậy, Hiền giả đáp: “Thưa Hiền giả, tôi không có kiến như vậy: “Thế giới là thường còn. Chỉ kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng.”” Khi được hỏi: “Vậy có phải kiến của Hiền giả là: “Thế giới không thường còn. Chỉ kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng”?” — được hỏi như vậy, Hiền giả đáp: “Thưa Hiền giả, tôi không có kiến như vậy: “Thế giới không thường còn. Chỉ kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng.”” Khi được hỏi về thế giới có biên giới, thế giới không có biên giới, mạng sống và thân thể là một, mạng sống là một đằng, thân thể là một nẻo, Như Lai còn tồn tại sau khi chết, Như Lai không còn tồn tại sau khi chết, Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết — chỉ kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng — phải chăng đó là kiến của Hiền giả? — được hỏi như vậy, Hiền giả đáp: “Thưa Hiền giả, tôi không có kiến như vậy:
“Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết. Chỉ kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng.”” Khi được hỏi: “Vậy thì Hiền giả không biết, Hiền giả không thấy chăng?” — Hiền giả đáp: “Thưa Hiền giả, không phải tôi không biết, không phải tôi không thấy. Thưa Hiền giả, tôi có biết, tôi có thấy.” Vậy thưa Hiền giả, ý nghĩa của lời nói ấy phải hiểu như thế nào?” — ““Thế giới là thường còn. Chỉ kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng” — thưa Hiền giả, đó là một tà kiến. “Thế giới không thường còn. Chỉ kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng” — thưa Hiền giả, đó là một tà kiến. “Thế giới có biên giới” — đó là một tà kiến.
“Thế giới không có biên giới” — đó là một tà kiến. “Mạng sống và thân thể là một” — đó là một tà kiến. “Mạng sống là một đằng, thân thể là một nẻo” — đó là một tà kiến. “Như Lai còn tồn tại sau khi chết” — đó là một tà kiến. “Như Lai không còn tồn tại sau khi chết” — đó là một tà kiến. “Như Lai vừa còn tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết” — đó là một tà kiến. “Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết. Chỉ kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng” — thưa Hiền giả, đó là một tà kiến. Thưa Hiền giả, cho đến đâu là kiến, cho đến đâu là nơi trú của kiến, chỗ bám của kiến, sự ám ảnh của kiến, sự sinh khởi của kiến và sự nhổ bật gốc của kiến — điều ấy tôi biết, điều ấy tôi thấy.
Biết điều ấy như vậy, thấy điều ấy như vậy, tại sao tôi lại nói: “Tôi không biết, tôi không thấy”? Thưa Hiền giả, tôi có biết, tôi có thấy.” — “Tôn giả tên là gì? Và các vị đồng phạm hạnh biết Tôn giả như thế nào?” — “Thưa Hiền giả, tên của tôi là Ānanda. Và các vị đồng phạm hạnh biết tôi là Ānanda.” — “Ôi, hóa ra chúng tôi đang trò chuyện với một bậc Đại sư mà không hề hay biết: đó là Tôn giả Ānanda! Nếu chúng tôi biết được rằng: “Đây là Tôn giả Ānanda”, chúng tôi đã không nói nhiều đến như vậy. Mong Tôn giả Ānanda tha lỗi cho tôi.” Bài thứ 6.