Kinh Kosala (1)
Một bài kinh lớn về sự biến hoại của mọi điều cao nhất: vua Pasenadi đứng đầu xứ Kosala, Đại Phạm thiên đứng đầu ngàn thế giới, các Quang âm thiên đứng đầu khi thế giới chuyển hoại, Thiền án thức đứng đầu mười Thiền án, thắng xứ màu trắng đứng đầu tám thắng xứ, con đường lạc thắng tri mau, tưởng Vô sở hữu xứ, tri kiến đoạn diệt của ngoại đạo, Phi tưởng phi phi tưởng xứ của những người tuyên bố thanh tịnh tối thắng — tất cả đều đổi khác và biến hoại. Thấy vậy, vị Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán và ly tham ngay cả với điều cao nhất; phần kết, Đức Phật đính chính lời xuyên tạc và khẳng định Ngài tuyên bố thắng tri dục, sắc, thọ và Niết-bàn ngay trong đời hiện tại.
Điểm thực hànhKhi một điều mình quý nhất — địa vị, một trạng thái thiền, một quan điểm — bắt đầu đổi khác, hãy nhớ bài kinh này: ngay cả điều cao nhất cũng biến hoại; nhàm chán và ly tham ở đó chính là cửa giải thoát.
Phẩm Lớn Kinh Kosala (1) — Này các Tỷ-kheo (vị tu sĩ khất thực), cho đến mức nào mà xứ Kāsi và Kosala trải rộng, cho đến mức nào mà lãnh thổ của vua Pasenadi xứ Kosala trải rộng, thì trong phạm vi ấy, vua Pasenadi xứ Kosala được xem là cao nhất. Nhưng này các Tỷ-kheo, ngay cả vua Pasenadi xứ Kosala cũng có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, vị Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán trong điều ấy. Do nhàm chán trong điều ấy, vị ấy ly tham ngay cả đối với điều cao nhất, huống gì đối với điều thấp hơn. Này các Tỷ-kheo, cho đến mức nào mà mặt trăng và mặt trời di chuyển, xoay chuyển, chiếu sáng các phương, thì cho đến mức ấy là ngàn thế giới. Trong ngàn thế giới ấy, có một ngàn mặt trăng, một ngàn mặt trời, một ngàn vua núi Sineru, một ngàn cõi Diêm-phù-đề, một ngàn Tây ngưu hóa châu, một ngàn Bắc cu-lô châu, một ngàn Đông thắng thần châu, bốn ngàn biển lớn, bốn ngàn Đại vương, một ngàn cõi Tứ đại thiên vương, một ngàn cõi Tam thập tam thiên, một ngàn cõi Dạ-ma thiên, một ngàn cõi Đâu-suất thiên, một ngàn cõi Hóa lạc thiên, một ngàn cõi Tha hóa tự tại thiên, một ngàn cõi Phạm thiên.
Này các Tỷ-kheo, cho đến mức nào mà ngàn thế giới trải rộng, thì Đại Phạm thiên ở đó được xem là cao nhất. Nhưng này các Tỷ-kheo, ngay cả Đại Phạm thiên cũng có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, vị Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán trong điều ấy. Do nhàm chán trong điều ấy, vị ấy ly tham ngay cả đối với điều cao nhất, huống gì đối với điều thấp hơn. Này các Tỷ-kheo, có một thời, đến thời ấy, thế giới này chuyển hoại. Này các Tỷ-kheo, trong khi thế giới chuyển hoại, các loài hữu tình phần lớn sinh qua cõi Quang âm thiên. Ở tại đó, các chúng sanh này do ý sinh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, bay đi trên hư không, sống trong vẻ rực rỡ, và ở như vậy một thời gian rất dài.
Này các Tỷ-kheo, trong khi thế giới chuyển hoại, các Quang âm thiên được xem là cao nhất. Nhưng này các Tỷ-kheo, ngay cả các Quang âm thiên cũng có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, vị Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán trong điều ấy. Do nhàm chán trong điều ấy, vị ấy ly tham ngay cả đối với điều cao nhất, huống gì đối với điều thấp hơn. Này các Tỷ-kheo, có mười Thiền án xứ này. Mười Thiền án xứ nào? Có người nhận biết Thiền án đất ở phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng; Có người nhận biết Thiền án nước ở phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng; Có người nhận biết Thiền án lửa ở phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng; Có người nhận biết Thiền án gió ở phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng; Có người nhận biết Thiền án xanh ở phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng; Có người nhận biết Thiền án vàng ở phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng; Có người nhận biết Thiền án đỏ ở phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng; Có người nhận biết Thiền án trắng ở phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng; Có người nhận biết Thiền án hư không ở phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng; Có người nhận biết Thiền án thức ở phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng.
Này các Tỷ-kheo, đây là mười Thiền án xứ. Này các Tỷ-kheo, điều cao nhất trong mười Thiền án xứ này là Thiền án thức: có người nhận biết nó ở phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng. Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh có tưởng như vậy. Nhưng này các Tỷ-kheo, ngay cả những chúng sanh có tưởng như vậy cũng có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, vị Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán trong điều ấy. Do nhàm chán trong điều ấy, vị ấy ly tham ngay cả đối với điều cao nhất, huống gì đối với điều thấp hơn. Này các Tỷ-kheo, có tám thắng xứ này. Tám thắng xứ nào? Có người có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc ở bên ngoài có giới hạn, đẹp và xấu; sau khi nhiếp thắng chúng, người ấy có tưởng như sau: “Ta biết, ta thấy”.
Đó là thắng xứ thứ nhất. Có người có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc ở bên ngoài vô lượng, đẹp và xấu; sau khi nhiếp thắng chúng, người ấy có tưởng như sau: “Ta biết, ta thấy”. Đó là thắng xứ thứ hai. Có người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc ở bên ngoài có giới hạn, đẹp và xấu; sau khi nhiếp thắng chúng, người ấy có tưởng như sau: “Ta biết, ta thấy”. Đó là thắng xứ thứ ba. Có người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc ở bên ngoài vô lượng, đẹp và xấu; sau khi nhiếp thắng chúng, người ấy có tưởng như sau: “Ta biết, ta thấy”. Đó là thắng xứ thứ tư. Có người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc ở bên ngoài màu xanh, sắc màu xanh, tướng màu xanh, ánh sáng xanh.
Như bông hoa gai màu xanh, sắc màu xanh, tướng màu xanh, ánh sáng xanh; hay như tấm lụa Ba-la-nại được chà láng cả hai mặt, màu xanh, sắc màu xanh, tướng màu xanh, ánh sáng xanh; cũng vậy, có người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc ở bên ngoài màu xanh, sắc màu xanh, tướng màu xanh, ánh sáng xanh; sau khi nhiếp thắng chúng, người ấy có tưởng như sau: “Ta biết, ta thấy”. Đó là thắng xứ thứ năm. Có người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc ở bên ngoài màu vàng, sắc màu vàng, tướng màu vàng, ánh sáng vàng. Như bông hoa kaṇikāra màu vàng, sắc màu vàng, tướng màu vàng, ánh sáng vàng; hay như tấm lụa Ba-la-nại được chà láng cả hai mặt, màu vàng, sắc màu vàng, tướng màu vàng, ánh sáng vàng; cũng vậy, có người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc ở bên ngoài màu vàng, sắc màu vàng, tướng màu vàng, ánh sáng vàng; sau khi nhiếp thắng chúng, người ấy có tưởng như sau: “Ta biết, ta thấy”.
Đó là thắng xứ thứ sáu. Có người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc ở bên ngoài màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, ánh sáng đỏ. Như bông hoa bandhujīvaka màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, ánh sáng đỏ; hay như tấm lụa Ba-la-nại được chà láng cả hai mặt, màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, ánh sáng đỏ; cũng vậy, có người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc ở bên ngoài màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, ánh sáng đỏ; sau khi nhiếp thắng chúng, người ấy có tưởng như sau: “Ta biết, ta thấy”. Đó là thắng xứ thứ bảy. Có người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc ở bên ngoài màu trắng, sắc màu trắng, tướng màu trắng, ánh sáng trắng.
Như sao mai Osadhi màu trắng, sắc màu trắng, tướng màu trắng, ánh sáng trắng; hay như tấm lụa Ba-la-nại được chà láng cả hai mặt, màu trắng, sắc màu trắng, tướng màu trắng, ánh sáng trắng; cũng vậy, có người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc ở bên ngoài màu trắng, sắc màu trắng, tướng màu trắng, ánh sáng trắng; sau khi nhiếp thắng chúng, người ấy có tưởng như sau: “Ta biết, ta thấy”. Đó là thắng xứ thứ tám. Này các Tỷ-kheo, đây là tám thắng xứ. Này các Tỷ-kheo, điều cao nhất trong tám thắng xứ này là: có người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc ở bên ngoài màu trắng, sắc màu trắng, tướng màu trắng, ánh sáng trắng; sau khi nhiếp thắng chúng, người ấy có tưởng như sau: “Ta biết, ta thấy”.
Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh có tưởng như vậy. Nhưng này các Tỷ-kheo, ngay cả những chúng sanh có tưởng như vậy cũng có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, vị Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán trong điều ấy. Do nhàm chán trong điều ấy, vị ấy ly tham ngay cả đối với điều cao nhất, huống gì đối với điều thấp hơn. Này các Tỷ-kheo, có bốn con đường tu tập này. Bốn con đường nào? Con đường khổ, thắng tri chậm; con đường khổ, thắng tri mau; con đường lạc, thắng tri chậm; con đường lạc, thắng tri mau — Này các Tỷ-kheo, đây là bốn con đường tu tập. Này các Tỷ-kheo, điều cao nhất trong bốn con đường tu tập này là con đường lạc, thắng tri mau.
Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh thực hành như vậy. Nhưng này các Tỷ-kheo, ngay cả những chúng sanh thực hành như vậy cũng có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, vị Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán trong điều ấy. Do nhàm chán trong điều ấy, vị ấy ly tham ngay cả đối với điều cao nhất, huống gì đối với điều thấp hơn. Này các Tỷ-kheo, có bốn tưởng này. Bốn tưởng nào? Có người nhận biết điều có hạn lượng. Có người nhận biết điều rộng lớn. Có người nhận biết điều vô lượng. Có người nhận biết Vô sở hữu xứ, nghĩ rằng: “Không có gì cả” — Này các Tỷ-kheo, đây là bốn tưởng. Này các Tỷ-kheo, điều cao nhất trong bốn tưởng này là: có người nhận biết Vô sở hữu xứ, nghĩ rằng: “Không có gì cả”.
Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh có tưởng như vậy. Nhưng này các Tỷ-kheo, ngay cả những chúng sanh có tưởng như vậy cũng có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, vị Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán trong điều ấy. Do nhàm chán trong điều ấy, vị ấy ly tham ngay cả đối với điều cao nhất, huống gì đối với điều thấp hơn. Này các Tỷ-kheo, điều cao nhất trong các tri kiến của những người ngoại đạo là: “Nếu ta không có trong lúc ấy, thì đã không có của ta; nếu ta sẽ không có, thì sẽ không có của ta.” Này các Tỷ-kheo, đối với người có tri kiến như vậy, có thể chờ đợi điều này: sự không chán ghét đối với đời sống tiếp diễn sẽ không còn nơi người ấy; và sự chán ghét đối với sự chấm dứt của đời sống tiếp diễn cũng sẽ không còn nơi người ấy.
Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh có tri kiến như vậy. Nhưng này các Tỷ-kheo, ngay cả những chúng sanh có tri kiến như vậy cũng có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, vị Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán trong điều ấy. Do nhàm chán trong điều ấy, vị ấy ly tham ngay cả đối với điều cao nhất, huống gì đối với điều thấp hơn. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn tuyên bố sự thanh tịnh tối thắng là mục đích cao nhất. Này các Tỷ-kheo, điều cao nhất trong số những vị tuyên bố sự thanh tịnh tối thắng là: vượt qua hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Họ thuyết Pháp để thắng tri điều ấy, để chứng ngộ điều ấy.
Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh nói như vậy. Nhưng này các Tỷ-kheo, ngay cả những chúng sanh nói như vậy cũng có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, vị Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán trong điều ấy. Do nhàm chán trong điều ấy, vị ấy ly tham ngay cả đối với điều cao nhất, huống gì đối với điều thấp hơn. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn tuyên bố Niết-bàn trong đời hiện tại là mục đích cao nhất. Này các Tỷ-kheo, điều cao nhất trong số những vị tuyên bố Niết-bàn trong đời hiện tại là: sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của sáu xúc xứ, được giải thoát không còn chấp thủ. Này các Tỷ-kheo, Ta là người đã nói như vậy, đã tuyên bố như vậy; thế mà một số Sa-môn, Bà-la-môn xuyên tạc Ta bằng điều không thật, rỗng không, dối trá, không đúng sự thật, rằng:
“Sa-môn Gotama không tuyên bố sự thắng tri các dục, không tuyên bố sự thắng tri các sắc, không tuyên bố sự thắng tri các thọ.” Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố sự thắng tri các dục, Ta tuyên bố sự thắng tri các sắc, Ta tuyên bố sự thắng tri các thọ; Ta tuyên bố ngay trong đời hiện tại sự không còn khát, đã tắt, đã mát lạnh, không chấp thủ, hoàn toàn Niết-bàn.” Bài thứ 9.