Thiên Cung Của Rajjumālā
Rajjumālā, nàng tỳ nữ bị chủ Bà-la-môn ở Gayā mắng nhiếc đánh đập, mang bình nước vào rừng định treo cổ tự tử; nơi ấy nàng gặp Đức Phật đang tham thiền dưới gốc cây, nghe ngài dạy bốn Thánh Đế và quy y, chứng đắc Bất Tử, Niết-bàn. Nay nàng là thiên nữ được sáu mươi ngàn nhạc cụ hầu vui, và xác quyết: cõi trời chỉ dành cho người đã làm phước thiện. Đây là chuyện cuối của Phẩm Mañjiṭṭhaka và của Phần Thiên Nữ.
Điểm thực hànhNgay trong lúc tuyệt vọng nhất, một cuộc gặp gỡ với bậc giác ngộ và một bài Pháp về Khổ Đế có thể đổi hướng cả đời người: đừng buông tay trước khi nghe Pháp.
Thiên Cung Sự Phần Thiên Nữ Phẩm Mañjiṭṭhaka Thiên Cung Của Rajjumālā
“Hỡi nàng tiên, nàng đứng,
Nàng duỗi ra các bàn tay và các bàn chân,
nàng nhảy múa ở phần trình tấu khéo léo.
Trong khi nàng đây đang nhảy múa,
phát ra từ toàn bộ các bộ phận của cơ thể.
các âm thanh thuộc cõi Trời,
làm êm tai, làm thích ý,
Trong khi nàng đây đang nhảy múa,
tỏa ra từ toàn bộ các bộ phận của cơ thể.
các hương thơm thuộc cõi Trời,
là các hương thơm tinh khiết, làm thích ý,
Trong khi nàng đang xoay tròn cơ thể,
của các vật trang sức ở các bím tóc được nghe
tiếng ngân vang
giống như từ năm loại nhạc cụ.
Các vòng hoa đeo tai bị gió thổi,
bị lay động bởi làn gió,
tiếng ngân vang của chúng được nghe
giống như từ năm loại nhạc cụ.
Luôn cả những tràng hoa ở trên đầu của nàng
là có hương thơm tinh khiết, làm thích ý;
hương thơm (của tràng hoa) thổi đi khắp các phương.
giống như cây mañjūsaka,
Nàng ngửi hương thơm tinh khiết ấy,
nàng nhìn thấy hình ảnh không thuộc nhân gian.
Hỡi nàng tiên, đã được hỏi, mong nàng thuật lại
quả báo này là của nghiệp nào?”
“Trước đây, tôi đã là tỳ nữ
của người Bà-la-môn ở Gayā.
Tôi có phước báu ít ỏi, không được may mắn;
mọi người đã biết tôi là ‘Rajjumālā’ (cô gái có tràng hoa là sợi dây thừng).
và những sự mắng nhiếc, đánh đập,
Bị đày đọa bởi sự dọa nạt
tôi đã cầm lấy bình nước, lìa khỏi,
và đã đi vì việc mang nước.
Sau khi để xuống cái bình nước ở con đường rẽ,
tôi đã tiến vào khu rừng rậm (nghĩ rằng):
‘Ta sẽ chết ở ngay tại đây.
Có ích gì với mạng sống của ta?’
Sau khi làm cái thòng lọng chắc chắn
rồi máng vào thân cây,
sau đó tôi đã xem xét các hướng (nghĩ rằng):
‘Người nào hiện đang sống ở rừng?’
Tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác,
đấng Phúc Lợi của tất cả thế gian, bậc Hiền Trí,
ngồi ở gốc cây,
đang tham thiền, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu.
Tôi đây đã có sự chấn động,
có sự nổi da gà kỳ lạ (nghĩ rằng):
‘Người nào hiện đang sống ở rừng,
loài người hay là Thiên nhân?’
Sau khi nhìn thấy vị tạo được niềm tin, đáng được tin tưởng,
đã lìa khỏi khu rừng (phiền não) đến nơi không còn rừng (phiền não),
tâm của tôi đã được tịnh tín (nghĩ rằng):
‘Người này không giống người bình thường.
Có các giác quan đã được canh phòng, được thích thú với việc tham thiền,
có tâm ý không hướng ngoại,
đấng Phúc Lợi của tất cả thế gian,
vị này đây sẽ là đức Phật,
gây ra nỗi sợ hãi và khiếp đảm, khó mà tiếp cận,
tựa như con sư tử nương náu ở hang động,
khó được gặp,
giống như bông hoa odumbara.’
Sau khi chuyện trò với tôi bằng những lời nói dịu dàng,
đức Như Lai ấy đã nói với tôi rằng:
‘Này Rajjumālā,
hãy đi đến nương nhờ đức Như Lai.’
Tôi đã lắng nghe lời nói
không sai sót, có lợi ích, thanh tịnh,
bặt thiệp, mềm mỏng, ngọt ngào,
và có sự xua đi tất cả sầu muộn.
Sau khi biết được tôi có tâm đã sẵn sàng,
được tịnh tín, có tâm ý trong sạch,
đấng Phúc Lợi của tất cả thế gian,
đức Như Lai đã chỉ dạy rằng:
‘Đây là Khổ,’ Ngài đã nói với tôi như thế.
‘Đây là Nguồn Gốc của Khổ,
đây là sự Tịch Diệt, và Đạo Lộ
trực chỉ thâm nhập vào sự Bất Tử.’
của bậc thiện xảo có lòng thương tưởng;
Tôi đã trụ lại trong lời giáo huấn
tôi đã chứng đắc sự Bất Tử, an tịnh,
Niết Bàn, vị thế vĩnh cửu.
Tôi đây đã đứng vững, có lòng yêu mến,
không có sự dao động về quan điểm,
với đức tin đã được sanh ra từ cội rễ,
là người con gái chánh thống của đức Phật.
Tôi đây thích thú, đùa giỡn,
vui sướng, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu,
tôi mang tràng hoa của cõi Trời,
tôi uống sự dịu ngọt của mật ong.
Có sáu mươi ngàn nhạc cụ
làm công việc tiêu khiển cho tôi.
(Các nhạc công nam) Āḷamba, Gaggara, Bhīma,
Sādhuvādī, và Saṁsaya,
Pokkhara, Suphassa,
còn các tiên nữ là Vīṇā, Mokkhā,
Nandā, luôn cả Sunandā,
Soṇadinnā, và Sucimhitā,
Aḷambusā, Missakesī
và Puṇḍarīkā, Aticāruṇī,
Eṇiphassā, Suphassā
và Subhaddā, Muduvādinī.
Các cô này và các cô khác
là những người làm công việc tiêu khiển giỏi hơn hết trong số các Thiên nhân.
Vào thời điểm thích hợp,
các Thiên nhân tự nguyện đi đến thưa rằng:
‘Nào, hãy để chúng tôi múa, hãy để chúng tôi ca.
Nào, hãy để chúng tôi làm cho nàng thích thú.’
là không dành cho những người không làm phước thiện,
nơi này chỉ dành cho những người đã làm phước thiện.
(Khu vườn) Nandana không sầu muộn đáng yêu này,
khu vườn lớn ở cõi Ba Mươi (Ba),
Không có sự an lạc cho những người không làm phước thiện
ở nơi này và nơi khác,
nhưng có sự an lạc cho những người đã làm phước thiện
ngay ở nơi này và nơi khác nữa.
Đối với những người mong mỏi sự cộng trú ấy
thì nên làm nhiều việc tốt lành,
bởi vì những người đã làm phước thiện
được vui sướng ở cõi Trời.
vì lợi ích của số đông,
Thật vậy, các đức Như Lai hiện khởi
các Ngài xứng đáng được cúng dường,
là những nơi sản xuất các ruộng phước cho loài người;
sau khi thể hiện sự phục vụ ở những nơi ấy,
các thí chủ đi đến cõi Trời.”
Nghĩa là
Với sắc đẹp nổi bật, nàng đứng, nàng tiên, duỗi ra tay và chân, nàng nhảy múa theo phần trình tấu khéo léo. Trong khi nàng nhảy múa, từ khắp các bộ phận cơ thể các tiếng nhạc cõi trời phát ra, êm tai, làm thích ý. Trong khi nàng nhảy múa, từ khắp các bộ phận cơ thể các hương thơm cõi trời tỏa ra, hương thơm tinh khiết, làm thích ý. Khi nàng xoay tròn thân mình, của trang sức trên các bím tóc được nghe tiếng ngân vang của chúng như từ năm loại nhạc cụ. Các vòng hoa đeo tai bị gió thổi, bị gió lay động, tiếng ngân vang của chúng được nghe như từ năm loại nhạc cụ. Cả tràng hoa trên đầu nàng có hương thơm tinh khiết, làm thích ý; hương thơm thổi đi khắp các phương, như cây mañjūsaka. Nàng ngửi hương thơm tinh khiết ấy, nàng thấy hình ảnh không thuộc nhân gian. Nàng tiên, được hỏi, xin thuật lại: đây là quả của nghiệp nào? Trước đây, tôi là tỳ nữ của người Bà-la-môn ở Gayā; ít phước, không may mắn; mọi người biết tôi là 'Rajjumālā' (cô gái có tràng hoa là sợi dây thừng). Bị mắng nhiếc và đánh đập, bị đày đọa bởi sự dọa nạt, tôi cầm lấy bình nước, ra đi, và đi lấy nước. Sau khi đặt bình nước xuống ở con đường rẽ, tôi tiến vào khu rừng rậm, nghĩ: 'Ta sẽ chết ngay tại đây. Mạng sống của ta có ích gì?' Sau khi làm một thòng lọng chắc chắn rồi máng vào thân cây, sau đó tôi nhìn quanh các hướng, nghĩ: 'Ai đang ở trong rừng này?' Tại đó, tôi thấy đấng Toàn Giác, đấng Phúc Lợi của tất cả thế gian, bậc Hiền Trí, ngồi ở gốc cây, đang tham thiền, không sợ hãi gì. Tôi chấn động, nổi da gà kỳ lạ, nghĩ: 'Ai đang ở trong rừng này — con người hay Thiên nhân?' Thấy vị tạo niềm tin, đáng tin tưởng, đã từ rừng phiền não đến nơi không còn rừng phiền não, tâm tôi được tịnh tín, nghĩ: 'Người này không giống người thường.' Các căn được canh phòng, thích thú tham thiền, tâm không hướng ngoại; đấng Phúc Lợi của tất cả thế gian — vị này sẽ là Đức Phật. Gây sợ hãi và khiếp đảm, khó tiếp cận, như con sư tử nương náu hang động; khó được nhìn thấy, như bông hoa odumbara (ưu-đàm). Ngài chuyện trò với tôi bằng lời dịu dàng, đức Như Lai nói với tôi: 'Này Rajjumālā, hãy đến nương nhờ đức Như Lai.' Tôi đã nghe lời nói ấy — không sai sót, có lợi ích, thanh tịnh, êm dịu, mềm mỏng, ngọt ngào, xua đi mọi sầu muộn. Biết tâm tôi đã sẵn sàng, tịnh tín, tâm trong sạch, đấng Phúc Lợi của tất cả thế gian, đức Như Lai đã chỉ dạy: 'Đây là Khổ,' ngài nói với tôi; 'đây là Nguồn Gốc của Khổ, đây là sự Diệt Khổ, và Đạo Lộ thẳng tắp, thâm nhập vào Bất Tử.' Của bậc thiện xảo, có lòng thương tưởng — tôi đã trụ lại trong lời giáo huấn ấy; tôi chứng đắc Bất Tử, an tịnh, Niết-bàn, vị thế không rơi rụng. Tôi đứng vững, có lòng yêu mến, không dao động về quan điểm, với đức tin sanh ra từ cội rễ, là người con gái chánh thống của Đức Phật. Tôi thích thú, đùa giỡn, vui sướng, không sợ hãi gì, tôi mang tràng hoa cõi trời, tôi uống vị ngọt của mật ong. Có sáu mươi ngàn nhạc cụ làm công việc tiêu khiển cho tôi; Các nhạc công nam Āḷamba, Gaggara, Bhīma, Sādhuvādī và Saṁsaya, Pokkhara, Suphassa, còn các tiên nữ là Vīṇā, Mokkhā, Nandā và Sunandā, Soṇadinnā và Sucimhitā, Aḷambusā, Missakesī và Puṇḍarīkā, Aticāruṇī, Eṇiphassā, Suphassā và Subhaddā, Muduvādinī. Các cô này và các cô khác, là những người tiêu khiển giỏi nhất trong số Thiên nhân; vào thời điểm thích hợp, họ đến và các Thiên nhân thưa rằng: 'Nào, để chúng tôi múa, để chúng tôi ca; nào, để chúng tôi làm nàng thích thú.' nơi này không dành cho người không làm phước thiện, chỉ dành cho người đã làm phước thiện. Vườn Nandana không sầu muộn, đáng yêu này, khu vườn lớn của cõi Ba Mươi Ba; không có an lạc cho người không làm phước thiện ở nơi này và nơi khác nữa. Nhưng có an lạc cho người đã làm phước thiện ngay ở nơi này và nơi khác nữa; đối với những ai mong mỏi sự cộng trú ấy, nên làm nhiều việc tốt lành, vì người đã làm phước thiện, là những người thành tựu tài sản, vui sướng ở cõi trời. Thật vậy, vì lợi ích của số đông, các đức Như Lai xuất hiện; các ngài xứng đáng được cúng dường, là mỏ sản xuất ruộng phước cho loài người; sau khi phục vụ ở những nơi ấy, các thí chủ vui sướng ở cõi trời.
Thiên Cung của Rajjumālā. Tóm Lược Phẩm Này
Alomā, người nữ bố thí cháo chua,
trú xá, bốn phụ nữ, vườn xoài,
(Thiên cung) màu vàng, (chuyện) khúc mía, do sự đảnh lễ, (chuyện) Rajjumālā;
bởi vậy phẩm được gọi tên thế ấy.
Nghĩa là
Đỏ tía, rực rỡ, long tượng, Alomā, người nữ bố thí cháo chua, trú xá, bốn phụ nữ, vườn xoài, màu vàng, khúc mía, đảnh lễ, Rajjumālā; phẩm được gọi tên như thế.
Phẩm Mañjiṭṭhaka là phẩm thứ tư. Hết Phần Thiên Nữ.