Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Tiểu Bộ › Kisāgotamī

Kisāgotamī

Kisāgotamītherīgāthā · THIG10.1 · 49 đoạn

Kisāgotamī — người mẹ ôm xác con đi xin hạt cải — kể lại: sau phần ca ngợi bạn lành và nỗi khổ của thân phận người nữ, là câu chuyện của chính bà: sinh con trên đường khi chồng đã chết, hai con trai đều chết, cha mẹ và em trai thiêu chung một giàn hỏa táng; ở bãi tha ma thấy thịt con bị thú ăn. Trong tận cùng khốn khổ, bà chứng đắc sự Bất Tử, tu tập Thánh đạo tám chi phần, chứng ngộ Niết-bàn, nhổ mũi tên sầu, đặt xuống gánh nặng.

Điểm thực hành

Khi khổ đau dồn dập đến mức không tưởng tượng nổi, Kisāgotamī cho thấy con đường ra không phải là chối bỏ, mà là thân cận bạn lành và đi trọn Thánh đạo tám chi phần.

Therīgāthā 10.1 Nhóm Mười Một Kisāgotamī

Tư cách bạn lành đã được bậc Hiền Trí khen ngợi
khi đề cập đến thế gian.
Trong khi thân cận với các bạn lành,
ngay cả kẻ ngu dốt cũng có thể trở thành người sáng trí.
Những người tốt nên được thân cận,
như thế trí tuệ tăng trưởng cho những người thân cận.
Người thân cận những người tốt
có thể thoát khỏi tất cả những nỗi khổ đau.
(Người thân cận những người tốt) có thể nhận thức được Khổ,
sự sanh lên của Khổ, sự Tịch Diệt,
và Đạo Lộ tám chi phần,
luôn cả bốn Chân Lý cao thượng.
Bản thể người nữ là khổ,
(là điều) đã được đấng Điều Ngự Trượng Phu nói đến.
Tình trạng có chung chồng cũng là khổ,
một số người nữ sanh đẻ lần đầu (cũng là khổ).
Những người nữ mang bào thai nghịch tử (nằm sai vị trí) thậm chí còn cắt ở cổ họng,
những người có thân hình mảnh mai ăn vào các chất độc,
cả hai (mẹ và con)
đều gánh chịu các sự bất hạnh.
Khi đã gần đến lúc sanh nở, trong khi đang đi (về nhà mẹ),
tôi đã nhìn thấy người chồng bị chết.
Tôi đã sanh đẻ ở trên đường,
khi tôi còn chưa đạt đến căn nhà của mình.
(Paṭācārā) người đàn bà khốn khổ có hai con trai đã qua đời,
và người chồng đã chết trên đường đi,
mẹ, cha, và em trai
được thiêu đốt chung một giàn hỏa táng.
Này người đàn bà khốn khổ có gia tộc đã bị tiêu tán,
khổ đau của nàng đã gánh chịu là vô ngần,
và nước mắt của nàng đã được tuôn trào
trong nhiều ngàn kiếp sống.
Tôi cũng đã nhìn thấy khi ấy, ở giữa bãi tha ma,
những mẩu thịt của con trai bị ngấu nghiến (bởi loài thú).
Là người nữ có gia tộc đã bị giết chết, bị mọi người quở trách,
là góa phụ, tôi đã chứng đắc sự Bất Tử.
Thánh Đạo tám chi phần
đưa đến sự Bất Tử đã được tôi tu tập,
Niết Bàn đã được tôi chứng ngộ;
tôi đã nhìn thấy tấm gương Giáo Pháp.
Tôi có mũi tên đã được nhổ lên,
có gánh nặng đã được đặt xuống, có việc cần làm đã được làm xong.
Trưởng lão ni Kisāgotamī,
với tâm đã được giải thoát, đã nói lên điều này.”
Trưởng lão ni Kisāgotamī đã nói bài kệ như thế.

Nghĩa là

Việc có bạn lành được bậc Hiền trí khen ngợi khi nói về thế gian. Thân cận với bạn lành, ngay cả kẻ ngu cũng có thể thành người sáng trí. Nên thân cận những người tốt, như thế trí tuệ của người thân cận tăng trưởng. Người thân cận người tốt có thể thoát khỏi mọi khổ đau. Người ấy có thể nhận biết Khổ, nguồn sinh của Khổ và sự Tịch diệt, Đạo lộ tám chi phần, và cả bốn Chân lý cao thượng. 'Bản thể người nữ là khổ' — Đấng Điều Ngự Trượng Phu (Phật) đã nói như thế. Cảnh có chung chồng cũng là khổ; có người nữ sinh nở lần đầu cũng là khổ. Người nữ mang thai nghịch còn tự cắt cổ họng, người mảnh mai thì uống chất độc, cả hai — mẹ và con — đều gánh chịu bất hạnh. Gần đến lúc sinh nở, đang đi trên đường, tôi thấy chồng đã chết. Tôi sinh con ngay trên đường, khi chưa về đến nhà mình. Người đàn bà khốn khổ có hai con trai đã chết, chồng chết trên đường, mẹ, cha và em trai bị thiêu chung một giàn hỏa táng. 'Này người đàn bà khốn khổ, gia tộc đã tiêu tán, nỗi khổ nàng gánh chịu là vô ngần, nước mắt nàng đã tuôn trào trong nhiều ngàn kiếp sống.' Tôi cũng thấy khi ấy, giữa bãi tha ma, thịt của con trai bị thú ăn ngấu nghiến. Gia tộc bị giết chết, bị mọi người quở trách, góa chồng, tôi chứng đắc sự Bất Tử. Thánh đạo tám chi phần đưa đến Bất Tử đã được tôi tu tập, Niết-bàn đã được tôi chứng ngộ; tôi đã thấy tấm gương Giáo pháp. Mũi tên (sầu muộn) của tôi đã được nhổ lên, gánh nặng đã đặt xuống, việc cần làm đã làm xong. Trưởng lão ni Kisāgotamī, với tâm đã giải thoát, đã nói như thế. Trưởng lão ni Kisāgotamī đã nói những lời như thế.

Nhóm Mười Một (hết).