Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Tương Ưng Bộ › Kinh Vajirā

Kinh Vajirā

Vajirāsutta · SN5.10 · 38 đoạn

Ác ma đến nói kệ với Tỷ-kheo-ni Vajirā: chúng sinh này do ai tạo ra, người tạo ở đâu, nó sinh từ đâu và diệt về đâu? Vajirā nhận ra Ác ma và đáp: sao ông cứ bám vào hai chữ “chúng sanh” — đó là tà kiến của ông thôi. Ở đây chỉ là một khối các hành hợp lại, không tìm thấy chúng sinh nào cả. Như khi các bộ phận lắp lại với nhau thì có tiếng gọi là “xe”, khi các uẩn có mặt thì theo thói quen người ta gọi là “chúng sanh”. Thật ra chỉ có khổ sinh ra, khổ tồn tại rồi khổ diệt; ngoài khổ, không gì sinh, không gì diệt. Ác ma biến mất.

Điểm thực hành

Gặp khổ, hãy nhìn như Vajirā: không có một “cái tôi” nào đứng sau đang bị hành hạ — chỉ có khổ đang sinh và sẽ diệt theo nhân duyên của nó.

Phẩm Tỷ-kheo-ni Kinh Vajirā Câu chuyện xảy ra ở Xá-vệ. Vào buổi sáng, Tỷ-kheo-ni (nữ tu sĩ khất thực) Vajirā đắp y, cầm bình bát và y, đi vào Xá-vệ để khất thực. Khất thực ở Xá-vệ xong, sau bữa ăn, trên đường khất thực trở về, Tỷ-kheo-ni Vajirā đi đến rừng Andha để nghỉ ban ngày, đi sâu vào rừng Andha, nàng ngồi xuống dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày. Bấy giờ Ác ma, kẻ xấu ác, muốn làm Tỷ-kheo-ni Vajirā run sợ, hoảng sợ, dựng tóc gáy, muốn kéo nàng ra khỏi thiền định, liền đến chỗ nàng và nói với nàng bằng bài kệ:

Do ai, hữu tình này, Ðược sanh, được tạo tác?
Người tạo hữu tình này, Hiện nay ở tại đâu?
Từ đâu hữu tình sanh?
Ði đâu hữu tình diệt?

Nghĩa là

Chúng sinh này do ai tạo ra? Người làm ra chúng sinh ấy ở đâu? Chúng sinh sinh ra ở đâu? Và chúng sinh sẽ diệt ở đâu?

Bấy giờ Tỷ-kheo-ni Vajirā nghĩ rằng: “Ai đã nói bài kệ này? Là người hay không phải người?” Rồi Tỷ-kheo-ni Vajirā lại nghĩ rằng: “Chính Ác ma, kẻ xấu ác, muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, dựng tóc gáy, muốn kéo ta ra khỏi thiền định, nên đã nói bài kệ đó.” Tỷ-kheo-ni Vajirā biết rõ: “Đấy là Ác ma”, liền đáp lại hắn bằng những bài kệ:

Sao Ông lại nói hoài, Ðến hai chữ chúng sanh?
Phải chăng, này Ác ma, Ông rơi vào tà kiến?
Ðây quy tụ các hành,
Chúng sanh được hình thành,
Như bộ phận quy tụ,
Tên xe được nói lên.
Cũng vậy, uẩn quy tụ,
Thông tục gọi chúng sanh.
Chỉ có khổ được sanh,
Khổ tồn tại, khổ diệt,
Ngoài khổ, không gì sanh,
Ngoài khổ không gì diệt.

Nghĩa là

Sao ông cứ cho rằng có cái gọi là “chúng sanh”? Này Ác ma, đó chẳng phải là quan điểm của ông sao? Ở đây chỉ là một khối các hành hợp lại thôi, không tìm thấy chúng sinh nào ở đây cả. Như khi các bộ phận được lắp lại với nhau, người ta dùng tiếng gọi là “xe”; cũng vậy, khi các uẩn có mặt, “chúng sanh” là tiếng gọi theo thói quen. Thật ra chỉ có khổ sinh ra, khổ tồn tại một lúc rồi qua đi. Ngoài khổ ra, không có gì sinh ra cả, ngoài khổ ra, không có gì diệt đi cả.

Ác ma biết rằng: “Tỷ-kheo-ni Vajirā đã biết ta”, nên buồn bã, thất vọng, và biến mất ngay tại chỗ ấy. Hết phẩm Tỷ-kheo-ni, phẩm thứ nhất.

Kệ tóm tắt của phẩm ấy:

Āḷavikā và Somā, Gotamī cùng với Vijayā; Uppalavaṇṇā và Cālā, Upacālā và Sīsupacālā; Selā và Vajirā — mười vị ấy. Hết Tương Ưng Tỷ-kheo-ni.