Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Tương Ưng Bộ › Kinh Āḷavikā

Kinh Āḷavikā

Āḷavikāsutta · SN5.1 · 26 đoạn

Tỷ-kheo-ni Āḷavikā khất thực ở Xá-vệ xong, vào rừng Andha tìm sự yên tĩnh một mình. Ác ma đến nói kệ dụ: đời này không có lối thoát đâu, sống tách riêng làm gì, cứ hưởng dục lạc kẻo sau hối hận. Āḷavikā nhận ra Ác ma và đáp: ở đời có lối thoát, ta đã tự chứng bằng trí tuệ — ông là bà con của kẻ buông lung nên không biết chỗ ấy; dục lạc như gươm thương, các uẩn là đài chém đầu, điều ông gọi là vui thú thì với ta là không vui. Ác ma biến mất.

Điểm thực hành

Tìm một khoảng yên tĩnh một mình mỗi ngày không phải trốn đời: đó là lối thoát thật mà chỉ người tự trải nghiệm mới biết giá trị của nó.

Phẩm Tỷ-kheo-ni Kinh Āḷavikā Tôi nghe kể lại như vầy: Một lần, Đức Phật ở tại Xá-vệ, trong vườn Kỳ Viên, khu vườn của ông Cấp Cô Độc. Vào buổi sáng, Tỷ-kheo-ni (nữ tu sĩ khất thực) Āḷavikā đắp y, cầm bình bát và y, đi vào Xá-vệ để khất thực. Khất thực ở Xá-vệ xong, sau bữa ăn, trên đường khất thực trở về, Tỷ-kheo-ni Āḷavikā đi đến rừng Andha để tìm sự yên tĩnh một mình. Bấy giờ Ác ma, kẻ xấu ác, muốn làm Tỷ-kheo-ni Āḷavikā run sợ, hoảng sợ, dựng tóc gáy, muốn kéo nàng ra khỏi sự yên tĩnh một mình, liền đến chỗ nàng và nói với nàng bằng bài kệ:

Ðời không có xuất ly,
Sống viễn ly làm gì?
Hãy trọn hưởng dục lạc,
Chớ hối hận về sau.

Nghĩa là

Ở đời không có lối thoát nào đâu, sống tách riêng một mình thì được gì? Cứ hưởng trọn các dục lạc đi, kẻo về sau lại hối hận.

Bấy giờ Tỷ-kheo-ni Āḷavikā nghĩ rằng: “Ai đã nói bài kệ này? Là người hay không phải người?” Rồi Tỷ-kheo-ni Āḷavikā lại nghĩ rằng: “Chính Ác ma, kẻ xấu ác, muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, dựng tóc gáy, muốn kéo ta ra khỏi sự yên tĩnh một mình, nên đã nói bài kệ đó.” Tỷ-kheo-ni Āḷavikā biết rõ: “Đấy là Ác ma”, liền đáp lại hắn bằng những bài kệ:

Ở đời có xuất ly,
Nhờ trí tuệ, ta chứng.
Này Bà con phóng dật,
Biết sao được pháp ấy?
Ái dục như kiếm thương,
Ðài chém đầu các uẩn.
Ðiều Ông gọi dục lạc,
Ta gọi là bất lạc.

Nghĩa là

Ở đời có lối thoát, ta đã tự chạm đến nó bằng trí tuệ. Này bà con của kẻ buông lung, kẻ xấu ác, ông không biết được trạng thái ấy đâu. Các dục lạc giống như gươm và thương; các uẩn là đài chém đầu của chúng. Điều ông gọi là vui thú dục lạc, với ta nay là điều không vui.

Ác ma biết rằng: “Tỷ-kheo-ni Āḷavikā đã biết ta”, nên buồn bã, thất vọng, và biến mất ngay tại chỗ ấy.