Giảng về các tiêu đề
Bài cuối của phẩm Tuệ lấy mười chín “tiêu đề” (mātikā) — từ sự thoát hẳn, giải thoát, minh-giải thoát, ba học tăng thượng, cho đến tu tập, quyết tâm và đời sống — rồi áp dụng lên từng tiêu đề cùng một chuỗi pháp đối trị quen thuộc: mỗi pháp trong chuỗi, từ xuất ly đến Đạo A-la-hán, đều thoát khỏi, giải thoát khỏi, làm lắng dịu hay buông xả đúng phiền não tương ứng. Bài kết thúc bằng bài kệ tóm lược mười bài của phẩm và các câu kệ kết thúc toàn bộ tác phẩm Phân Tích Đạo.
Điểm thực hànhTrong mười chín tiêu đề, hãy chọn một tiêu đề làm chủ đề quán chiếu của tuần này — ví dụ “xả ly” — và mỗi tối tự hỏi: hôm nay nhờ pháp nào tôi đã buông xả được điều gì, dù rất nhỏ? Ghi lại một dòng là đủ để tiêu đề ấy thành thực hành sống.
Phân Tích Đạo Quyển 3 — Phẩm Tuệ 3.10. Giảng về các tiêu đề Sự thoát hẳn; giải thoát — sự thoát ra hẳn; minh-giải thoát; tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ; sự lắng dịu hẳn; trí; sự thấy; sự thanh tịnh; sự xuất ly; lối thoát ra; sự viễn ly; xả ly; hành; thiền-giải thoát; tu tập; quyết tâm; đời sống. [19 tiêu đề] “Sự thoát hẳn”: nhờ sự xuất ly, vị ấy thoát hẳn khỏi dục tham; nhờ tâm không sân độc, vị ấy thoát hẳn khỏi sân độc; nhờ tưởng ánh sáng, vị ấy thoát hẳn khỏi hôn trầm thụy miên; nhờ tâm không tán loạn, vị ấy thoát hẳn khỏi phóng dật; nhờ sự xác định rõ các pháp, vị ấy thoát hẳn khỏi hoài nghi; nhờ trí, vị ấy thoát hẳn khỏi vô minh; nhờ niềm hân hoan, vị ấy thoát hẳn khỏi sự chán nản.
Nhờ thiền thứ nhất, vị ấy thoát hẳn khỏi năm triền cái; nhờ thiền thứ hai, vị ấy thoát hẳn khỏi tầm và tứ; nhờ thiền thứ ba, vị ấy thoát hẳn khỏi hỷ; nhờ thiền thứ tư, vị ấy thoát hẳn khỏi lạc và khổ; nhờ chứng đắc không vô biên xứ, vị ấy thoát hẳn khỏi tưởng về sắc, tưởng về sự va chạm, tưởng sai biệt; nhờ chứng đắc thức vô biên xứ, vị ấy thoát hẳn khỏi tưởng về không vô biên xứ; nhờ chứng đắc vô sở hữu xứ, vị ấy thoát hẳn khỏi tưởng về thức vô biên xứ; nhờ chứng đắc phi tưởng phi phi tưởng xứ, vị ấy thoát hẳn khỏi tưởng về vô sở hữu xứ; nhờ tâm định vô tướng, vị ấy thoát hẳn khỏi mọi tướng; nhờ đạo dự lưu, vị ấy thoát hẳn khỏi thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, cùng các phiền não và các pháp đưa xuống cõi khổ; nhờ đạo nhất lai, vị ấy thoát hẳn khỏi kiết sử dục tham thô và kiết sử sân hận thô; nhờ đạo bất hoàn, vị ấy thoát hẳn khỏi kiết sử dục tham vi tế và kiết sử sân hận vi tế.
Nhờ Đạo A-la-hán, vị ấy thoát hẳn khỏi mọi phiền não. Nhờ sự xuất ly, vị ấy được giải thoát khỏi dục tham — đó là giải thoát, là sự thoát ra hẳn. Nhờ tâm không sân độc, vị ấy được giải thoát khỏi sân độc — đó là giải thoát, là sự thoát ra hẳn. Nhờ tưởng ánh sáng, vị ấy được giải thoát khỏi hôn trầm thụy miên — đó là giải thoát, là sự thoát ra hẳn. Nhờ tâm không tán loạn, vị ấy được giải thoát khỏi phóng dật — đó là giải thoát, là sự thoát ra hẳn. Nhờ sự xác định rõ các pháp, vị ấy được giải thoát khỏi hoài nghi — đó là giải thoát, là sự thoát ra hẳn. Nhờ trí, vị ấy được giải thoát khỏi vô minh — đó là giải thoát, là sự thoát ra hẳn. Nhờ niềm hân hoan, vị ấy được giải thoát khỏi sự chán nản — đó là giải thoát, là sự thoát ra hẳn.
Nhờ thiền thứ nhất, vị ấy được giải thoát khỏi năm triền cái — đó là giải thoát, là sự thoát ra hẳn. Nhờ thiền thứ hai, vị ấy được giải thoát khỏi tầm và tứ — đó là giải thoát, là sự thoát ra hẳn. Nhờ thiền thứ ba, vị ấy được giải thoát khỏi hỷ — đó là giải thoát, là sự thoát ra hẳn. Nhờ thiền thứ tư, vị ấy được giải thoát khỏi lạc và khổ — đó là giải thoát, là sự thoát ra hẳn. Nhờ chứng đắc Không vô biên xứ, vị ấy được giải thoát khỏi tưởng về sắc, tưởng về sự va chạm, tưởng sai biệt — đó là giải thoát, là sự thoát ra hẳn. Nhờ chứng đắc Thức vô biên xứ, vị ấy được giải thoát khỏi tưởng về Không vô biên xứ — đó là giải thoát, là sự thoát ra hẳn. Nhờ chứng đắc Vô sở hữu xứ, vị ấy được giải thoát khỏi tưởng về Thức vô biên xứ — đó là giải thoát, là sự thoát ra hẳn. Nhờ chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ, vị ấy được giải thoát khỏi tưởng về Vô sở hữu xứ — đó là giải thoát, là sự thoát ra hẳn. Nhờ tâm định vô tướng, vị ấy được giải thoát khỏi mọi tướng — đó là giải thoát, là sự thoát ra hẳn. Nhờ Đạo Dự lưu, vị ấy được giải thoát khỏi thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, cùng các phiền não và các pháp đưa xuống cõi khổ — đó là giải thoát, là sự thoát ra hẳn. Nhờ Đạo Nhất lai, vị ấy được giải thoát khỏi kiết sử dục tham thô và kiết sử sân hận thô — đó là giải thoát, là sự thoát ra hẳn. Nhờ Đạo Bất hoàn, vị ấy được giải thoát khỏi kiết sử dục tham vi tế và kiết sử sân hận vi tế — đó là giải thoát, là sự thoát ra hẳn.
Nhờ Đạo A-la-hán, vị ấy được giải thoát khỏi mọi phiền não — đó là giải thoát, là sự thoát ra hẳn. Sự xuất ly hiện hữu nên gọi là minh; vị ấy được giải thoát khỏi dục tham nên gọi là giải thoát. Khi đang biết rõ thì được giải thoát, khi đang được giải thoát thì biết rõ — đó là minh-giải thoát. Tâm không sân độc hiện hữu nên gọi là minh; vị ấy được giải thoát khỏi sân độc nên gọi là giải thoát. Khi đang biết rõ thì được giải thoát, khi đang được giải thoát thì biết rõ — đó là minh-giải thoát. Tưởng ánh sáng hiện hữu nên gọi là minh; vị ấy được giải thoát khỏi hôn trầm thụy miên nên gọi là giải thoát. Khi đang biết rõ thì được giải thoát, khi đang được giải thoát thì biết rõ — đó là minh-giải thoát. Tâm không tán loạn hiện hữu nên gọi là minh; vị ấy được giải thoát khỏi phóng dật nên gọi là giải thoát. Khi đang biết rõ thì được giải thoát, khi đang được giải thoát thì biết rõ — đó là minh-giải thoát. Sự xác định rõ các pháp hiện hữu nên gọi là minh; vị ấy được giải thoát khỏi hoài nghi nên gọi là giải thoát. Khi đang biết rõ thì được giải thoát, khi đang được giải thoát thì biết rõ — đó là minh-giải thoát. Trí hiện hữu nên gọi là minh; vị ấy được giải thoát khỏi vô minh nên gọi là giải thoát. Khi đang biết rõ thì được giải thoát, khi đang được giải thoát thì biết rõ — đó là minh-giải thoát. Niềm hân hoan hiện hữu nên gọi là minh; vị ấy được giải thoát khỏi sự chán nản nên gọi là giải thoát. Khi đang biết rõ thì được giải thoát, khi đang được giải thoát thì biết rõ — đó là minh-giải thoát.
Đạo A-la-hán hiện hữu nên gọi là minh; vị ấy được giải thoát khỏi mọi phiền não nên gọi là giải thoát. Khi đang biết rõ thì được giải thoát, khi đang được giải thoát thì biết rõ — đó là minh-giải thoát. “Tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ”: Nhờ sự xuất ly mà đối trị dục tham: có giới thanh tịnh theo ý nghĩa gìn giữ, tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tán loạn, kiến thanh tịnh theo ý nghĩa thấy rõ. Yếu tố gìn giữ trong đó — đó là tăng thượng giới học. Yếu tố không tán loạn trong đó — đó là tăng thượng tâm học. Yếu tố thấy rõ trong đó — đó là tăng thượng tuệ học. Nhờ tâm không sân độc mà đối trị sân độc: có giới thanh tịnh theo ý nghĩa gìn giữ, tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tán loạn, kiến thanh tịnh theo ý nghĩa thấy rõ; nhờ tưởng ánh sáng mà đối trị hôn trầm thụy miên: có giới thanh tịnh theo ý nghĩa gìn giữ, tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tán loạn, kiến thanh tịnh theo ý nghĩa thấy rõ; nhờ tâm không tán loạn mà đối trị phóng dật: có giới thanh tịnh theo ý nghĩa gìn giữ, tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tán loạn, kiến thanh tịnh theo ý nghĩa thấy rõ; nhờ sự xác định rõ các pháp mà đối trị hoài nghi: có giới thanh tịnh theo ý nghĩa gìn giữ, tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tán loạn, kiến thanh tịnh theo ý nghĩa thấy rõ; nhờ trí mà đối trị vô minh: có giới thanh tịnh theo ý nghĩa gìn giữ, tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tán loạn, kiến thanh tịnh theo ý nghĩa thấy rõ; nhờ niềm hân hoan mà đối trị sự chán nản: có giới thanh tịnh theo ý nghĩa gìn giữ, tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tán loạn, kiến thanh tịnh theo ý nghĩa thấy rõ.
Nhờ Đạo A-la-hán mà đối trị mọi phiền não: có giới thanh tịnh theo ý nghĩa gìn giữ, tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tán loạn. Kiến thanh tịnh theo ý nghĩa thấy rõ. Yếu tố gìn giữ trong đó — đó là tăng thượng giới học. Yếu tố không tán loạn trong đó — đó là tăng thượng tâm học. Yếu tố thấy rõ trong đó — đó là tăng thượng tuệ học. “Sự lắng dịu hẳn”: nhờ sự xuất ly, dục tham được làm lắng dịu hẳn; nhờ tâm không sân độc, sân độc được làm lắng dịu hẳn; nhờ tưởng ánh sáng, hôn trầm thụy miên được làm lắng dịu hẳn; nhờ tâm không tán loạn, phóng dật được làm lắng dịu hẳn; nhờ sự xác định rõ các pháp, hoài nghi được làm lắng dịu hẳn; nhờ trí, vô minh được làm lắng dịu hẳn; nhờ niềm hân hoan, sự chán nản được làm lắng dịu hẳn; nhờ thiền thứ nhất, năm triền cái được làm lắng dịu hẳn; nhờ thiền thứ hai, tầm và tứ được làm lắng dịu hẳn; nhờ thiền thứ ba, hỷ được làm lắng dịu hẳn; nhờ thiền thứ tư, lạc và khổ được làm lắng dịu hẳn; nhờ chứng đắc Không vô biên xứ, tưởng về sắc, tưởng về sự va chạm, tưởng sai biệt được làm lắng dịu hẳn; nhờ chứng đắc Thức vô biên xứ, tưởng về Không vô biên xứ được làm lắng dịu hẳn; nhờ chứng đắc Vô sở hữu xứ, tưởng về Thức vô biên xứ được làm lắng dịu hẳn; nhờ chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tưởng về Vô sở hữu xứ được làm lắng dịu hẳn; nhờ tâm định vô tướng, mọi tướng được làm lắng dịu hẳn; nhờ Đạo Dự lưu, thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, cùng các phiền não và các pháp đưa xuống cõi khổ được làm lắng dịu hẳn; nhờ Đạo Nhất lai, kiết sử dục tham thô và kiết sử sân hận thô được làm lắng dịu hẳn; nhờ Đạo Bất hoàn, kiết sử dục tham vi tế và kiết sử sân hận vi tế được làm lắng dịu hẳn.
Nhờ Đạo A-la-hán, mọi phiền não được làm lắng dịu hẳn. “Trí”: Vì dục tham đã được dứt bỏ, sự xuất ly là trí theo ý nghĩa đã được biết rõ; vì sân độc đã được dứt bỏ, tâm không sân độc là trí theo ý nghĩa đã được biết rõ; vì hôn trầm thụy miên đã được dứt bỏ, tưởng ánh sáng là trí theo ý nghĩa đã được biết rõ; vì phóng dật đã được dứt bỏ, tâm không tán loạn là trí theo ý nghĩa đã được biết rõ; vì hoài nghi đã được dứt bỏ, sự xác định rõ các pháp là trí theo ý nghĩa đã được biết rõ; vì vô minh đã được dứt bỏ, trí là trí theo ý nghĩa đã được biết rõ; vì sự chán nản đã được dứt bỏ, niềm hân hoan là trí theo ý nghĩa đã được biết rõ; vì năm triền cái đã được dứt bỏ, thiền thứ nhất là trí theo ý nghĩa đã được biết rõ; vì tầm và tứ đã được dứt bỏ, thiền thứ hai là trí theo ý nghĩa đã được biết rõ; vì hỷ đã được dứt bỏ, thiền thứ ba là trí theo ý nghĩa đã được biết rõ; vì lạc và khổ đã được dứt bỏ, thiền thứ tư là trí theo ý nghĩa đã được biết rõ; vì tưởng về sắc, tưởng về sự va chạm, tưởng sai biệt đã được dứt bỏ, chứng đắc Không vô biên xứ là trí theo ý nghĩa đã được biết rõ; vì tưởng về Không vô biên xứ đã được dứt bỏ, chứng đắc Thức vô biên xứ là trí theo ý nghĩa đã được biết rõ; vì tưởng về Thức vô biên xứ đã được dứt bỏ, chứng đắc Vô sở hữu xứ là trí theo ý nghĩa đã được biết rõ; vì tưởng về Vô sở hữu xứ đã được dứt bỏ, chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ là trí theo ý nghĩa đã được biết rõ; vì mọi tướng đã được dứt bỏ, tâm định vô tướng là trí theo ý nghĩa đã được biết rõ; vì thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, cùng các phiền não và các pháp đưa xuống cõi khổ đã được dứt bỏ, Đạo Dự lưu là trí theo ý nghĩa đã được biết rõ; vì kiết sử dục tham thô và kiết sử sân hận thô đã được dứt bỏ, Đạo Nhất lai là trí theo ý nghĩa đã được biết rõ; vì kiết sử dục tham vi tế và kiết sử sân hận vi tế đã được dứt bỏ, Đạo Bất hoàn là trí theo ý nghĩa đã được biết rõ; Vì mọi phiền não đã được dứt bỏ, Đạo A-la-hán là trí theo ý nghĩa đã được biết rõ.
“Sự thấy”: Vì dục tham đã được dứt bỏ, sự xuất ly là sự thấy vì đã được thấy rõ. Vì sân độc đã được dứt bỏ, tâm không sân độc là sự thấy vì đã được thấy rõ; vì hôn trầm thụy miên đã được dứt bỏ, tưởng ánh sáng là sự thấy vì đã được thấy rõ; vì phóng dật đã được dứt bỏ, tâm không tán loạn là sự thấy vì đã được thấy rõ; vì hoài nghi đã được dứt bỏ, sự xác định rõ các pháp là sự thấy vì đã được thấy rõ; vì vô minh đã được dứt bỏ, trí là sự thấy vì đã được thấy rõ; vì sự chán nản đã được dứt bỏ, niềm hân hoan là sự thấy vì đã được thấy rõ; vì năm triền cái đã được dứt bỏ, thiền thứ nhất là sự thấy vì đã được thấy rõ; vì tầm và tứ đã được dứt bỏ, thiền thứ hai là sự thấy vì đã được thấy rõ; vì hỷ đã được dứt bỏ, thiền thứ ba là sự thấy vì đã được thấy rõ; vì lạc và khổ đã được dứt bỏ, thiền thứ tư là sự thấy vì đã được thấy rõ; vì tưởng về sắc, tưởng về sự va chạm, tưởng sai biệt đã được dứt bỏ, chứng đắc Không vô biên xứ là sự thấy vì đã được thấy rõ; vì tưởng về Không vô biên xứ đã được dứt bỏ, chứng đắc Thức vô biên xứ là sự thấy vì đã được thấy rõ; vì tưởng về Thức vô biên xứ đã được dứt bỏ, chứng đắc Vô sở hữu xứ là sự thấy vì đã được thấy rõ; vì tưởng về Vô sở hữu xứ đã được dứt bỏ, chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ là sự thấy vì đã được thấy rõ; vì mọi tướng đã được dứt bỏ, tâm định vô tướng là sự thấy vì đã được thấy rõ; vì thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, cùng các phiền não và các pháp đưa xuống cõi khổ đã được dứt bỏ, Đạo Dự lưu là sự thấy vì đã được thấy rõ; vì kiết sử dục tham thô và kiết sử sân hận thô đã được dứt bỏ, Đạo Nhất lai là sự thấy vì đã được thấy rõ; vì kiết sử dục tham vi tế và kiết sử sân hận vi tế đã được dứt bỏ, Đạo Bất hoàn là sự thấy vì đã được thấy rõ.
Vì mọi phiền não đã được dứt bỏ, Đạo A-la-hán là sự thấy vì đã được thấy rõ. “Sự thanh tịnh”: Khi đang dứt bỏ dục tham, vị ấy trở nên trong sạch nhờ sự xuất ly. Khi đang dứt bỏ sân độc, vị ấy trở nên trong sạch nhờ tâm không sân độc; khi đang dứt bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy trở nên trong sạch nhờ tưởng ánh sáng; khi đang dứt bỏ phóng dật, vị ấy trở nên trong sạch nhờ tâm không tán loạn; khi đang dứt bỏ hoài nghi, vị ấy trở nên trong sạch nhờ sự xác định rõ các pháp; khi đang dứt bỏ vô minh, vị ấy trở nên trong sạch nhờ trí; khi đang dứt bỏ sự chán nản, vị ấy trở nên trong sạch nhờ niềm hân hoan; khi đang dứt bỏ năm triền cái, vị ấy trở nên trong sạch nhờ thiền thứ nhất; khi đang dứt bỏ tầm và tứ, vị ấy trở nên trong sạch nhờ thiền thứ hai; khi đang dứt bỏ hỷ, vị ấy trở nên trong sạch nhờ thiền thứ ba; khi đang dứt bỏ lạc và khổ, vị ấy trở nên trong sạch nhờ thiền thứ tư; khi đang dứt bỏ tưởng về sắc, tưởng về sự va chạm, tưởng sai biệt, vị ấy trở nên trong sạch nhờ chứng đắc Không vô biên xứ; khi đang dứt bỏ tưởng về Không vô biên xứ, vị ấy trở nên trong sạch nhờ chứng đắc Thức vô biên xứ; khi đang dứt bỏ tưởng về Thức vô biên xứ, vị ấy trở nên trong sạch nhờ chứng đắc Vô sở hữu xứ; khi đang dứt bỏ tưởng về Vô sở hữu xứ, vị ấy trở nên trong sạch nhờ chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ; khi đang dứt bỏ mọi tướng, vị ấy trở nên trong sạch nhờ tâm định vô tướng; khi đang dứt bỏ thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, cùng các phiền não và các pháp đưa xuống cõi khổ, vị ấy trở nên trong sạch nhờ Đạo Dự lưu; khi đang dứt bỏ kiết sử dục tham thô và kiết sử sân hận thô, vị ấy trở nên trong sạch nhờ Đạo Nhất lai; khi đang dứt bỏ kiết sử dục tham vi tế và kiết sử sân hận vi tế, vị ấy trở nên trong sạch nhờ Đạo Bất hoàn.
Khi đang dứt bỏ mọi phiền não, vị ấy trở nên trong sạch nhờ Đạo A-la-hán. “Sự xuất ly”: lối thoát ra của các dục chính là điều này — sự xuất ly. Lối thoát ra của các sắc chính là điều này — trạng thái vô sắc. Bất cứ thứ gì đã sinh, đã được tạo thành, sinh lên do duyên — lối thoát ra của nó là sự diệt. Tâm không sân độc là sự xuất ly của sân độc. Tưởng ánh sáng là sự xuất ly của hôn trầm thụy miên; tâm không tán loạn là sự xuất ly của phóng dật; sự xác định rõ các pháp là sự xuất ly của hoài nghi; trí là sự xuất ly của vô minh; niềm hân hoan là sự xuất ly của sự chán nản; thiền thứ nhất là sự xuất ly của năm triền cái; thiền thứ hai là sự xuất ly của tầm và tứ; thiền thứ ba là sự xuất ly của hỷ; thiền thứ tư là sự xuất ly của lạc và khổ; chứng đắc Không vô biên xứ là sự xuất ly của tưởng về sắc, tưởng về sự va chạm, tưởng sai biệt; chứng đắc Thức vô biên xứ là sự xuất ly của tưởng về Không vô biên xứ; chứng đắc Vô sở hữu xứ là sự xuất ly của tưởng về Thức vô biên xứ; chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ là sự xuất ly của tưởng về Vô sở hữu xứ; tâm định vô tướng là sự xuất ly của mọi tướng; Đạo Dự lưu là sự xuất ly của thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, cùng các phiền não và các pháp đưa xuống cõi khổ; Đạo Nhất lai là sự xuất ly của kiết sử dục tham thô và kiết sử sân hận thô; Đạo Bất hoàn là sự xuất ly của kiết sử dục tham vi tế và kiết sử sân hận vi tế.
Đạo A-la-hán là sự xuất ly của mọi phiền não. “Lối thoát ra”: lối thoát ra của các dục chính là điều này — sự xuất ly. Lối thoát ra của các sắc chính là điều này — trạng thái vô sắc. Bất cứ thứ gì đã sinh, đã được tạo thành, sinh lên do duyên — lối thoát ra của nó là sự diệt. Sự xuất ly là lối thoát ra của dục tham. Tâm không sân độc là lối thoát ra của sân độc; tưởng ánh sáng là lối thoát ra của hôn trầm thụy miên; tâm không tán loạn là lối thoát ra của phóng dật; sự xác định rõ các pháp là lối thoát ra của hoài nghi; trí là lối thoát ra của vô minh; niềm hân hoan là lối thoát ra của sự chán nản; thiền thứ nhất là lối thoát ra của năm triền cái; thiền thứ hai là lối thoát ra của tầm và tứ; thiền thứ ba là lối thoát ra của hỷ; thiền thứ tư là lối thoát ra của lạc và khổ; chứng đắc Không vô biên xứ là lối thoát ra của tưởng về sắc, tưởng về sự va chạm, tưởng sai biệt; chứng đắc Thức vô biên xứ là lối thoát ra của tưởng về Không vô biên xứ; chứng đắc Vô sở hữu xứ là lối thoát ra của tưởng về Thức vô biên xứ; chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ là lối thoát ra của tưởng về Vô sở hữu xứ; tâm định vô tướng là lối thoát ra của mọi tướng; Đạo Dự lưu là lối thoát ra của thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, cùng các phiền não và các pháp đưa xuống cõi khổ; Đạo Nhất lai là lối thoát ra của kiết sử dục tham thô và kiết sử sân hận thô; Đạo Bất hoàn là lối thoát ra của kiết sử dục tham vi tế và kiết sử sân hận vi tế.
Đạo A-la-hán là lối thoát ra của mọi phiền não. “Sự viễn ly”: Sự xuất ly là sự viễn ly của dục tham; tâm không sân độc là sự viễn ly của sân độc; tưởng ánh sáng là sự viễn ly của hôn trầm thụy miên; tâm không tán loạn là sự viễn ly của phóng dật; sự xác định rõ các pháp là sự viễn ly của hoài nghi; trí là sự viễn ly của vô minh; niềm hân hoan là sự viễn ly của sự chán nản; thiền thứ nhất là sự viễn ly của năm triền cái; thiền thứ hai là sự viễn ly của tầm và tứ; thiền thứ ba là sự viễn ly của hỷ; thiền thứ tư là sự viễn ly của lạc và khổ; chứng đắc Không vô biên xứ là sự viễn ly của tưởng về sắc, tưởng về sự va chạm, tưởng sai biệt; chứng đắc Thức vô biên xứ là sự viễn ly của tưởng về Không vô biên xứ; chứng đắc Vô sở hữu xứ là sự viễn ly của tưởng về Thức vô biên xứ; chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ là sự viễn ly của tưởng về Vô sở hữu xứ; tâm định vô tướng là sự viễn ly của mọi tướng; Đạo Dự lưu là sự viễn ly của thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, cùng các phiền não và các pháp đưa xuống cõi khổ; Đạo Nhất lai là sự viễn ly của kiết sử dục tham thô và kiết sử sân hận thô; Đạo Bất hoàn là sự viễn ly của kiết sử dục tham vi tế và kiết sử sân hận vi tế.
Đạo A-la-hán là sự viễn ly của mọi phiền não. Nhờ sự xuất ly, vị ấy buông xả dục tham — đó là xả ly. Nhờ tâm không sân độc, vị ấy buông xả sân độc — đó là xả ly. Nhờ tưởng ánh sáng, vị ấy buông xả hôn trầm thụy miên — đó là xả ly. Nhờ tâm không tán loạn, vị ấy buông xả phóng dật — đó là xả ly. Nhờ sự xác định rõ các pháp, vị ấy buông xả hoài nghi — đó là xả ly. Nhờ trí, vị ấy buông xả vô minh — đó là xả ly. Nhờ niềm hân hoan, vị ấy buông xả sự chán nản — đó là xả ly. Nhờ thiền thứ nhất, vị ấy buông xả năm triền cái — đó là xả ly. Nhờ thiền thứ hai, vị ấy buông xả tầm và tứ — đó là xả ly. Nhờ thiền thứ ba, vị ấy buông xả hỷ — đó là xả ly. Nhờ thiền thứ tư, vị ấy buông xả lạc và khổ — đó là xả ly. Nhờ chứng đắc Không vô biên xứ, vị ấy buông xả tưởng về sắc, tưởng về sự va chạm, tưởng sai biệt — đó là xả ly. Nhờ chứng đắc Thức vô biên xứ, vị ấy buông xả tưởng về Không vô biên xứ — đó là xả ly. Nhờ chứng đắc Vô sở hữu xứ, vị ấy buông xả tưởng về Thức vô biên xứ — đó là xả ly. Nhờ chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ, vị ấy buông xả tưởng về Vô sở hữu xứ — đó là xả ly. Nhờ tâm định vô tướng, vị ấy buông xả mọi tướng — đó là xả ly. Nhờ Đạo Dự lưu, vị ấy buông xả thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, cùng các phiền não và các pháp đưa xuống cõi khổ — đó là xả ly. Nhờ Đạo Nhất lai, vị ấy buông xả kiết sử dục tham thô và kiết sử sân hận thô — đó là xả ly. Nhờ Đạo Bất hoàn, vị ấy buông xả kiết sử dục tham vi tế và kiết sử sân hận vi tế — đó là xả ly.
Nhờ Đạo A-la-hán, vị ấy buông xả mọi phiền não — đó là xả ly. “Hành”: Khi đang dứt bỏ dục tham, vị ấy hành bằng sự xuất ly. Khi đang dứt bỏ sân độc, vị ấy hành bằng tâm không sân độc; khi đang dứt bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy hành bằng tưởng ánh sáng; khi đang dứt bỏ phóng dật, vị ấy hành bằng tâm không tán loạn; khi đang dứt bỏ hoài nghi, vị ấy hành bằng sự xác định rõ các pháp; khi đang dứt bỏ vô minh, vị ấy hành bằng trí; khi đang dứt bỏ sự chán nản, vị ấy hành bằng niềm hân hoan; khi đang dứt bỏ năm triền cái, vị ấy hành bằng thiền thứ nhất; khi đang dứt bỏ tầm và tứ, vị ấy hành bằng thiền thứ hai; khi đang dứt bỏ hỷ, vị ấy hành bằng thiền thứ ba; khi đang dứt bỏ lạc và khổ, vị ấy hành bằng thiền thứ tư; khi đang dứt bỏ tưởng về sắc, tưởng về sự va chạm, tưởng sai biệt, vị ấy hành bằng chứng đắc Không vô biên xứ; khi đang dứt bỏ tưởng về Không vô biên xứ, vị ấy hành bằng chứng đắc Thức vô biên xứ; khi đang dứt bỏ tưởng về Thức vô biên xứ, vị ấy hành bằng chứng đắc Vô sở hữu xứ; khi đang dứt bỏ tưởng về Vô sở hữu xứ, vị ấy hành bằng chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ; khi đang dứt bỏ mọi tướng, vị ấy hành bằng tâm định vô tướng; khi đang dứt bỏ thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, cùng các phiền não và các pháp đưa xuống cõi khổ, vị ấy hành bằng Đạo Dự lưu; khi đang dứt bỏ kiết sử dục tham thô và kiết sử sân hận thô, vị ấy hành bằng Đạo Nhất lai; khi đang dứt bỏ kiết sử dục tham vi tế và kiết sử sân hận vi tế, vị ấy hành bằng Đạo Bất hoàn.
Khi đang dứt bỏ mọi phiền não, vị ấy hành bằng Đạo A-la-hán. Sự xuất ly thiền quán nên gọi là — thiền. Nó thiêu đốt dục tham nên gọi là — thiền. Người đang thiền quán thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. Người đang thiêu đốt (phiền não) thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. “Đang thiền quán” là nói về các pháp. “Đang thiêu đốt” là nói về các phiền não. Vị ấy biết rõ cả điều được thiền quán lẫn điều được thiêu đốt — đó là người thiền quán bằng thiền. Tâm không sân độc thiền quán nên gọi là thiền. Nó thiêu đốt sân độc nên gọi là — thiền. Người đang thiền quán thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. Người đang thiêu đốt (phiền não) thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. “Đang thiền quán” là nói về các pháp; “đang thiêu đốt” là nói về các phiền não. Vị ấy biết rõ cả điều được thiền quán lẫn điều được thiêu đốt — đó là người thiền quán bằng thiền.
Tưởng ánh sáng thiền quán nên gọi là — thiền. Nó thiêu đốt hôn trầm thụy miên nên gọi là — thiền. Người đang thiền quán thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. Người đang thiêu đốt (phiền não) thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. “Đang thiền quán” là nói về các pháp; “đang thiêu đốt” là nói về các phiền não. Vị ấy biết rõ cả điều được thiền quán lẫn điều được thiêu đốt — đó là người thiền quán bằng thiền. Tâm không tán loạn thiền quán nên gọi là thiền. Nó thiêu đốt phóng dật nên gọi là thiền. Người đang thiền quán thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. Người đang thiêu đốt (phiền não) thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. “Đang thiền quán” là nói về các pháp; “đang thiêu đốt” là nói về các phiền não. Vị ấy biết rõ cả điều được thiền quán lẫn điều được thiêu đốt — đó là người thiền quán bằng thiền. Sự xác định rõ các pháp thiền quán nên gọi là thiền. Nó thiêu đốt hoài nghi nên gọi là thiền. Người đang thiền quán thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. Người đang thiêu đốt (phiền não) thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. “Đang thiền quán” là nói về các pháp; “đang thiêu đốt” là nói về các phiền não. Vị ấy biết rõ cả điều được thiền quán lẫn điều được thiêu đốt — đó là người thiền quán bằng thiền. Trí thiền quán nên gọi là thiền. Nó thiêu đốt vô minh nên gọi là thiền. Người đang thiền quán thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. Người đang thiêu đốt (phiền não) thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. “Đang thiền quán” là nói về các pháp; “đang thiêu đốt” là nói về các phiền não. Vị ấy biết rõ cả điều được thiền quán lẫn điều được thiêu đốt — đó là người thiền quán bằng thiền. Niềm hân hoan thiền quán nên gọi là thiền. Nó thiêu đốt sự chán nản nên gọi là thiền. Người đang thiền quán thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. Người đang thiêu đốt (phiền não) thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. “Đang thiền quán” là nói về các pháp; “đang thiêu đốt” là nói về các phiền não. Vị ấy biết rõ cả điều được thiền quán lẫn điều được thiêu đốt — đó là người thiền quán bằng thiền. Thiền thứ nhất thiền quán nên gọi là thiền. Nó thiêu đốt năm triền cái nên gọi là thiền. Người đang thiền quán thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. Người đang thiêu đốt (phiền não) thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. “Đang thiền quán” là nói về các pháp; “đang thiêu đốt” là nói về các phiền não. Vị ấy biết rõ cả điều được thiền quán lẫn điều được thiêu đốt — đó là người thiền quán bằng thiền. Thiền thứ hai thiền quán nên gọi là thiền. Nó thiêu đốt tầm và tứ nên gọi là thiền. Người đang thiền quán thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. Người đang thiêu đốt (phiền não) thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. “Đang thiền quán” là nói về các pháp; “đang thiêu đốt” là nói về các phiền não. Vị ấy biết rõ cả điều được thiền quán lẫn điều được thiêu đốt — đó là người thiền quán bằng thiền. Thiền thứ ba thiền quán nên gọi là thiền. Nó thiêu đốt hỷ nên gọi là thiền. Người đang thiền quán thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. Người đang thiêu đốt (phiền não) thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. “Đang thiền quán” là nói về các pháp; “đang thiêu đốt” là nói về các phiền não. Vị ấy biết rõ cả điều được thiền quán lẫn điều được thiêu đốt — đó là người thiền quán bằng thiền. Thiền thứ tư thiền quán nên gọi là thiền. Nó thiêu đốt lạc và khổ nên gọi là thiền. Người đang thiền quán thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. Người đang thiêu đốt (phiền não) thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. “Đang thiền quán” là nói về các pháp; “đang thiêu đốt” là nói về các phiền não. Vị ấy biết rõ cả điều được thiền quán lẫn điều được thiêu đốt — đó là người thiền quán bằng thiền. Chứng đắc Không vô biên xứ thiền quán nên gọi là thiền. Nó thiêu đốt tưởng về sắc, tưởng về sự va chạm, tưởng sai biệt nên gọi là thiền. Người đang thiền quán thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. Người đang thiêu đốt (phiền não) thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. “Đang thiền quán” là nói về các pháp; “đang thiêu đốt” là nói về các phiền não. Vị ấy biết rõ cả điều được thiền quán lẫn điều được thiêu đốt — đó là người thiền quán bằng thiền. Chứng đắc Thức vô biên xứ thiền quán nên gọi là thiền. Nó thiêu đốt tưởng về Không vô biên xứ nên gọi là thiền. Người đang thiền quán thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. Người đang thiêu đốt (phiền não) thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. “Đang thiền quán” là nói về các pháp; “đang thiêu đốt” là nói về các phiền não. Vị ấy biết rõ cả điều được thiền quán lẫn điều được thiêu đốt — đó là người thiền quán bằng thiền. Chứng đắc Vô sở hữu xứ thiền quán nên gọi là thiền. Nó thiêu đốt tưởng về Thức vô biên xứ nên gọi là thiền. Người đang thiền quán thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. Người đang thiêu đốt (phiền não) thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. “Đang thiền quán” là nói về các pháp; “đang thiêu đốt” là nói về các phiền não. Vị ấy biết rõ cả điều được thiền quán lẫn điều được thiêu đốt — đó là người thiền quán bằng thiền. Chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền quán nên gọi là thiền. Nó thiêu đốt tưởng về Vô sở hữu xứ nên gọi là thiền. Người đang thiền quán thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. Người đang thiêu đốt (phiền não) thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. “Đang thiền quán” là nói về các pháp; “đang thiêu đốt” là nói về các phiền não. Vị ấy biết rõ cả điều được thiền quán lẫn điều được thiêu đốt — đó là người thiền quán bằng thiền. Tâm định vô tướng thiền quán nên gọi là thiền. Nó thiêu đốt mọi tướng nên gọi là thiền. Người đang thiền quán thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. Người đang thiêu đốt (phiền não) thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. “Đang thiền quán” là nói về các pháp; “đang thiêu đốt” là nói về các phiền não. Vị ấy biết rõ cả điều được thiền quán lẫn điều được thiêu đốt — đó là người thiền quán bằng thiền. Đạo Dự lưu thiền quán nên gọi là thiền. Nó thiêu đốt thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, cùng các phiền não và các pháp đưa xuống cõi khổ nên gọi là thiền. Người đang thiền quán thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. Người đang thiêu đốt (phiền não) thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. “Đang thiền quán” là nói về các pháp; “đang thiêu đốt” là nói về các phiền não. Vị ấy biết rõ cả điều được thiền quán lẫn điều được thiêu đốt — đó là người thiền quán bằng thiền. Đạo Nhất lai thiền quán nên gọi là thiền. Nó thiêu đốt kiết sử dục tham thô và kiết sử sân hận thô nên gọi là thiền. Người đang thiền quán thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. Người đang thiêu đốt (phiền não) thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. “Đang thiền quán” là nói về các pháp; “đang thiêu đốt” là nói về các phiền não. Vị ấy biết rõ cả điều được thiền quán lẫn điều được thiêu đốt — đó là người thiền quán bằng thiền. Đạo Bất hoàn thiền quán nên gọi là thiền. Nó thiêu đốt kiết sử dục tham vi tế và kiết sử sân hận vi tế nên gọi là thiền. Người đang thiền quán thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. Người đang thiêu đốt (phiền não) thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. “Đang thiền quán” là nói về các pháp; “đang thiêu đốt” là nói về các phiền não. Vị ấy biết rõ cả điều được thiền quán lẫn điều được thiêu đốt — đó là người thiền quán bằng thiền.
Đạo A-la-hán thiền quán nên gọi là — thiền. Nó thiêu đốt mọi phiền não nên gọi là — thiền. Người đang thiền quán thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. Người đang thiêu đốt (phiền não) thì được giải thoát — đó là thiền-giải thoát. “Đang thiền quán” là nói về — các pháp. “Đang thiêu đốt” là nói về — các phiền não. Vị ấy biết rõ cả điều được thiền quán lẫn điều được thiêu đốt — đó là người thiền quán bằng thiền. “Tu tập, quyết tâm, đời sống”: khi đang dứt bỏ dục tham, vị ấy tu tập sự xuất ly — vị ấy đầy đủ sự tu tập. Nhờ năng lực của sự xuất ly, vị ấy giữ tâm đứng vững — vị ấy đầy đủ sự quyết tâm. Vị ấy, đầy đủ sự tu tập và đầy đủ sự quyết tâm như vậy, sống bình đẳng, không bất bình đẳng; sống đúng đắn, không sai trái; sống thanh tịnh, không ô nhiễm — vị ấy đầy đủ đời sống.
Vị ấy, đầy đủ sự tu tập, đầy đủ sự quyết tâm, đầy đủ đời sống như vậy, đến với bất cứ hội chúng nào — dù hội chúng Sát-đế-lỵ, dù hội chúng Bà-la-môn, dù hội chúng gia chủ, dù hội chúng Sa-môn — vị ấy đến với lòng tự tin, không bối rối. Điều ấy do nhân gì? Vì vị ấy đầy đủ sự tu tập, đầy đủ sự quyết tâm, đầy đủ đời sống như vậy. Khi đang dứt bỏ sân độc, vị ấy tu tập tâm không sân độc — vị ấy đầy đủ sự tu tập. Nhờ năng lực của tâm không sân độc, vị ấy giữ tâm đứng vững — vị ấy đầy đủ sự quyết tâm. Vị ấy, đầy đủ sự tu tập và đầy đủ sự quyết tâm như vậy, sống bình đẳng, không bất bình đẳng; sống đúng đắn, không sai trái; sống thanh tịnh, không ô nhiễm — vị ấy đầy đủ đời sống. Vị ấy, đầy đủ sự tu tập, đầy đủ sự quyết tâm, đầy đủ đời sống như vậy, đến với bất cứ hội chúng nào — dù hội chúng Sát-đế-lỵ, dù hội chúng Bà-la-môn, dù hội chúng gia chủ, dù hội chúng Sa-môn — vị ấy đến với lòng tự tin, không bối rối. Điều ấy do nhân gì? Vì vị ấy đầy đủ sự tu tập, đầy đủ sự quyết tâm, đầy đủ đời sống như vậy.
Khi đang dứt bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy tu tập tưởng ánh sáng — vị ấy đầy đủ sự tu tập. Nhờ năng lực của tưởng ánh sáng, vị ấy giữ tâm đứng vững — vị ấy đầy đủ sự quyết tâm. Vị ấy, đầy đủ sự tu tập và đầy đủ sự quyết tâm như vậy, sống bình đẳng, không bất bình đẳng; sống đúng đắn, không sai trái; sống thanh tịnh, không ô nhiễm — vị ấy đầy đủ đời sống. Vị ấy, đầy đủ sự tu tập, đầy đủ sự quyết tâm, đầy đủ đời sống như vậy, đến với bất cứ hội chúng nào — dù hội chúng Sát-đế-lỵ, dù hội chúng Bà-la-môn, dù hội chúng gia chủ, dù hội chúng Sa-môn — vị ấy đến với lòng tự tin, không bối rối. Điều ấy do nhân gì? Vì vị ấy đầy đủ sự tu tập, đầy đủ sự quyết tâm, đầy đủ đời sống như vậy.
Khi đang dứt bỏ phóng dật, vị ấy tu tập tâm không tán loạn — vị ấy đầy đủ sự tu tập. Nhờ năng lực của tâm không tán loạn, vị ấy giữ tâm đứng vững — vị ấy đầy đủ sự quyết tâm. Vị ấy, đầy đủ sự tu tập và đầy đủ sự quyết tâm như vậy, sống bình đẳng, không bất bình đẳng; sống đúng đắn, không sai trái; sống thanh tịnh, không ô nhiễm — vị ấy đầy đủ đời sống. Vị ấy, đầy đủ sự tu tập, đầy đủ sự quyết tâm, đầy đủ đời sống như vậy, đến với bất cứ hội chúng nào — dù hội chúng Sát-đế-lỵ, dù hội chúng Bà-la-môn, dù hội chúng gia chủ, dù hội chúng Sa-môn — vị ấy đến với lòng tự tin, không bối rối. Điều ấy do nhân gì? Vì vị ấy đầy đủ sự tu tập, đầy đủ sự quyết tâm, đầy đủ đời sống như vậy.
Khi đang dứt bỏ hoài nghi, vị ấy tu tập sự xác định rõ các pháp — vị ấy đầy đủ sự tu tập. Nhờ năng lực của sự xác định rõ các pháp, vị ấy giữ tâm đứng vững — vị ấy đầy đủ sự quyết tâm. Vị ấy, đầy đủ sự tu tập và đầy đủ sự quyết tâm như vậy, sống bình đẳng, không bất bình đẳng; sống đúng đắn, không sai trái; sống thanh tịnh, không ô nhiễm — vị ấy đầy đủ đời sống. Vị ấy, đầy đủ sự tu tập, đầy đủ sự quyết tâm, đầy đủ đời sống như vậy, đến với bất cứ hội chúng nào — dù hội chúng Sát-đế-lỵ, dù hội chúng Bà-la-môn, dù hội chúng gia chủ, dù hội chúng Sa-môn — vị ấy đến với lòng tự tin, không bối rối. Điều ấy do nhân gì? Vì vị ấy đầy đủ sự tu tập, đầy đủ sự quyết tâm, đầy đủ đời sống như vậy.
Khi đang dứt bỏ vô minh, vị ấy tu tập minh — vị ấy đầy đủ sự tu tập. Nhờ năng lực của minh, vị ấy giữ tâm đứng vững — vị ấy đầy đủ sự quyết tâm. Vị ấy, đầy đủ sự tu tập và đầy đủ sự quyết tâm như vậy, sống bình đẳng, không bất bình đẳng; sống đúng đắn, không sai trái; sống thanh tịnh, không ô nhiễm — vị ấy đầy đủ đời sống. Vị ấy, đầy đủ sự tu tập, đầy đủ sự quyết tâm, đầy đủ đời sống như vậy, đến với bất cứ hội chúng nào — dù hội chúng Sát-đế-lỵ, dù hội chúng Bà-la-môn, dù hội chúng gia chủ, dù hội chúng Sa-môn — vị ấy đến với lòng tự tin, không bối rối. Điều ấy do nhân gì? Vì vị ấy đầy đủ sự tu tập, đầy đủ sự quyết tâm, đầy đủ đời sống như vậy.
Khi đang dứt bỏ sự chán nản, vị ấy tu tập niềm hân hoan — vị ấy đầy đủ sự tu tập. Nhờ năng lực của niềm hân hoan, vị ấy giữ tâm đứng vững — vị ấy đầy đủ sự quyết tâm. Vị ấy, đầy đủ sự tu tập và đầy đủ sự quyết tâm như vậy, sống bình đẳng, không bất bình đẳng; sống đúng đắn, không sai trái; sống thanh tịnh, không ô nhiễm — vị ấy đầy đủ đời sống. Vị ấy, đầy đủ sự tu tập, đầy đủ sự quyết tâm, đầy đủ đời sống như vậy, đến với bất cứ hội chúng nào — dù hội chúng Sát-đế-lỵ, dù hội chúng Bà-la-môn, dù hội chúng gia chủ, dù hội chúng Sa-môn — vị ấy đến với lòng tự tin, không bối rối. Điều ấy do nhân gì? Vì vị ấy đầy đủ sự tu tập, đầy đủ sự quyết tâm, đầy đủ đời sống như vậy.
Khi đang dứt bỏ năm triền cái, vị ấy tu tập thiền thứ nhất — vị ấy đầy đủ sự tu tập. Nhờ năng lực của thiền thứ nhất, vị ấy giữ tâm đứng vững — vị ấy đầy đủ sự quyết tâm. Vị ấy, đầy đủ sự tu tập và đầy đủ sự quyết tâm như vậy, sống bình đẳng, không bất bình đẳng; sống đúng đắn, không sai trái; sống thanh tịnh, không ô nhiễm — vị ấy đầy đủ đời sống. Vị ấy, đầy đủ sự tu tập, đầy đủ sự quyết tâm, đầy đủ đời sống như vậy, đến với bất cứ hội chúng nào — dù hội chúng Sát-đế-lỵ, dù hội chúng Bà-la-môn, dù hội chúng gia chủ, dù hội chúng Sa-môn — vị ấy đến với lòng tự tin, không bối rối. Điều ấy do nhân gì? Vì vị ấy đầy đủ sự tu tập, đầy đủ sự quyết tâm, đầy đủ đời sống như vậy.
Khi đang dứt bỏ mọi phiền não, vị ấy tu tập Đạo A-la-hán — vị ấy đầy đủ sự tu tập. Nhờ năng lực của Đạo A-la-hán, vị ấy giữ tâm đứng vững — vị ấy đầy đủ sự quyết tâm. Vị ấy, đầy đủ sự tu tập và đầy đủ sự quyết tâm như vậy, sống bình đẳng, không bất bình đẳng; sống đúng đắn, không sai trái; sống thanh tịnh, không ô nhiễm — vị ấy đầy đủ đời sống. Vị ấy, đầy đủ sự tu tập, đầy đủ sự quyết tâm, đầy đủ đời sống như vậy, đến với bất cứ hội chúng nào — dù hội chúng Sát-đế-lỵ, dù hội chúng Bà-la-môn, dù hội chúng gia chủ, dù hội chúng Sa-môn — vị ấy đến với lòng tự tin, không bối rối. Điều ấy do nhân gì? Vì vị ấy đầy đủ sự tu tập, đầy đủ sự quyết tâm, đầy đủ đời sống như vậy.
Hết phần giảng về các tiêu đề. Phẩm Tuệ là phẩm thứ ba. Phần tóm lược của phẩm ấy:
viễn ly, hạnh thứ năm,
phép kỳ diệu, đứng đầu,
thiết lập niệm, minh sát,
thuộc phẩm Tuệ, thứ ba.
tiêu đề nữa là mười
Nghĩa là
Tuệ, thần thông, sự lãnh hội thấu suốt, sự viễn ly, và hành là bài thứ năm, phép kỳ diệu, các pháp đứng đầu được tịnh lặng, sự thiết lập niệm, minh sát, thuộc phẩm Tuệ, là phẩm thứ ba. và bài các tiêu đề nữa — mười bài tất cả.
Phẩm Lớn (Mahāvagga), phẩm Kết Hợp Chung (Yuganaddha), và phẩm Tuệ (Paññāvagga) theo tên gọi; chỉ ba phẩm này có mặt trong tác phẩm Phân Tích Đạo này. Trong các con đường của vô số phương pháp, (tác phẩm này) sâu thẳm, ví như đại dương; như bầu trời đầy sao chi chít, như hồ lớn đã thành hình; rộng lớn cho những người thuyết giảng, thắp sáng trí cho các bậc tu tập. Hết tác phẩm Phân Tích Đạo.