Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Trường Bộ › Kinh Giáo Thọ Thi-ca-la-việt

Kinh Giáo Thọ Thi-ca-la-việt

Siṅgālasutta · DN31 · 267 đoạn

Sáng sớm ở thành Vương Xá, Đức Phật gặp Thi-ca-la-việt đang ướt đẫm lễ bái sáu phương theo lời cha dặn trước khi mất, liền dạy anh cách lễ bái sáu phương theo bậc Thánh: bỏ bốn nghiệp phiền não, không làm ác vì bốn lý do, tránh sáu đường phung phí của cải với các nguy hiểm của từng đường, biết phân biệt bạn giả và bạn thật. Sáu phương thật ra là sáu mối quan hệ quanh mình — cha mẹ, thầy, vợ con, bạn bè, người làm công và các vị Sa-môn, Bà-la-môn — mỗi quan hệ đều có bổn phận tử tế từ cả hai phía. Các đoạn kệ trong kinh được giữ nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu, kèm phần “Nghĩa là” bằng tiếng Việt thường.

Điểm thực hành

Mỗi ngày chọn một phương để chăm sóc thật: hôm nay phụng dưỡng cha mẹ bằng một việc cụ thể trong năm cách kinh dạy — làm tròn bổn phận của mình, giữ gìn nề nếp nhà, hay dâng lễ tưởng nhớ nếu các ngài đã khuất.

Tôi nghe kể lại như vầy: Một lần, Đức Phật ở gần thành Vương Xá, trong khu vườn Trúc Lâm, chỗ người ta cho sóc ăn. Lúc ấy, Thi-ca-la-việt, con trai một gia chủ, dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá. Áo ướt đẫm, tóc ướt đẫm, anh chắp tay lễ bái khắp các phương — phương Đông, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, phương Dưới và phương Trên. Sáng hôm ấy, Đức Phật đắp y, cầm bát, vào thành Vương Xá khất thực. Ngài thấy Thi-ca-la-việt dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, áo ướt đẫm, tóc ướt đẫm, chắp tay lễ bái khắp các phương — phương Đông, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, phương Dưới và phương Trên. Thấy vậy, Đức Phật hỏi anh: — Này Gia chủ tử, sao anh dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, áo ướt đẫm, tóc ướt đẫm, chắp tay lễ bái khắp các phương như vậy — phương Đông, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, phương Dưới và phương Trên?

— Bạch Đức Phật, cha con lúc sắp mất có dặn con rằng: “Này con, hãy lễ bái các phương.” Bạch Đức Phật, vì kính trọng và vâng theo lời cha, con dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, áo ướt đẫm, tóc ướt đẫm, chắp tay lễ bái khắp các phương — phương Đông, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, phương Dưới và phương Trên.

1. Sáu phương

— Này Gia chủ tử, trong giới luật của bậc Thánh, sáu phương không được lễ bái như vậy đâu. — Vậy bạch Đức Phật, trong giới luật của bậc Thánh, sáu phương được lễ bái như thế nào? Mong Đức Phật dạy cho con biết cách lễ bái sáu phương theo giới luật của bậc Thánh. — Vậy thì này Gia chủ tử, hãy nghe cho kỹ và ghi nhớ, Ta sẽ nói. — Thưa vâng, bạch Đức Phật — Thi-ca-la-việt đáp. Đức Phật nói như sau: — Này Gia chủ tử, khi người đệ tử bậc Thánh đã bỏ được bốn nghiệp phiền não (những việc làm làm tâm mình ô nhiễm), không làm việc xấu vì bốn lý do, và không chạy theo sáu đường phung phí của cải, thì người ấy đã rời bỏ mười bốn điều xấu này và che chở được sáu phương.

Người ấy đang đi trên con đường chiến thắng cả hai đời: đời này được tốt đẹp, đời sau cũng được tốt đẹp. Sau khi thân này tan rã, qua đời, người ấy sinh về nơi tốt lành, cõi trời.

2. Bốn nghiệp phiền não

Bốn nghiệp phiền não đã bỏ được là những gì? Này Gia chủ tử, giết hại sinh vật là nghiệp phiền não; lấy của không cho là nghiệp phiền não; tà dâm là nghiệp phiền não; nói dối là nghiệp phiền não. Bốn nghiệp phiền não này, người ấy đã bỏ được. Đức Phật nói như vậy. Nói xong, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư, lại nói thêm bằng kệ:

Sát sanh và trộm cắp,
Nói láo,
lấy vợ người,
Kẻ trí không tán thán, Những hạnh nghiệp như vậy.

Nghĩa là

Giết hại sinh vật, trộm cắp, nói dối, ngoại tình với vợ người khác — người có trí không hề khen những việc làm như vậy.

3. Bốn lý do làm việc xấu

— Không làm việc xấu vì bốn lý do nào? Bị thiên vị chi phối thì làm việc xấu; bị sân hận chi phối thì làm việc xấu; bị si mê chi phối thì làm việc xấu; bị sợ hãi chi phối thì làm việc xấu. Này Gia chủ tử, khi người đệ tử bậc Thánh không bị thiên vị chi phối, không bị sân hận chi phối, không bị si mê chi phối, không bị sợ hãi chi phối, thì người ấy không làm việc xấu vì bốn lý do này. Đức Phật nói như vậy. Nói xong, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư, lại nói thêm bằng kệ:

Vì tham, sân, bố, si,
Ai phản lại Chánh pháp,
Thanh danh bị sứt mẻ
Như mặt trăng đêm khuyết.
Vì tham, sân, bố, si,
Ai không phản Chánh pháp,
Thanh danh được tròn đủ,
Như mặt trăng đêm đầy.

Nghĩa là

Vì thiên vị, sân hận, sợ hãi, si mê, ai làm trái điều đúng đắn, thì tiếng tốt của người ấy hao mòn dần, như mặt trăng càng về cuối tháng càng khuyết. Vì thiên vị, sân hận, sợ hãi, si mê, ai không làm trái điều đúng đắn, thì tiếng tốt của người ấy ngày càng đầy thêm, như mặt trăng càng về ngày rằm càng tròn đầy.

4. Sáu đường phung phí của cải

— Không chạy theo sáu đường phung phí của cải nào? Này Gia chủ tử, mê đắm rượu chè là đường phung phí của cải; đi lại ngoài đường lúc không phải thời là đường phung phí của cải; la cà lễ hội đình đám là đường phung phí của cải; mê đắm cờ bạc là đường phung phí của cải; giao du với bạn xấu là đường phung phí của cải; quen thói lười biếng là đường phung phí của cải.

5. Sáu nguy hiểm của rượu chè

Này Gia chủ tử, mê đắm rượu chè có sáu nguy hiểm. Của cải mất ngay trước mắt; hay sinh cãi vã; là chỗ cho bệnh tật kéo đến; mang tiếng xấu; phơi bày chỗ kín đáng xấu hổ; và thứ sáu là làm trí tuệ suy yếu. Này Gia chủ tử, đó là sáu nguy hiểm của việc mê đắm rượu chè.

6. Sáu nguy hiểm của việc lang thang ngoài đường ban đêm

Này Gia chủ tử, lang thang ngoài đường ban đêm có sáu nguy hiểm. Chính mình không được che chở, giữ gìn; vợ con cũng không được che chở, giữ gìn; tài sản cũng không được che chở, giữ gìn; bị người ta nghi ngờ về những việc xấu; những lời đồn không thật bám theo mình; và mình đi đầu trong nhiều chuyện khổ não. Này Gia chủ tử, đó là sáu nguy hiểm của việc lang thang ngoài đường ban đêm.

7. Sáu nguy hiểm của việc la cà lễ hội

Này Gia chủ tử, la cà lễ hội có sáu nguy hiểm. Lúc nào cũng chỉ nghĩ: “Ở đâu có múa? Ở đâu có hát? Ở đâu có nhạc? Ở đâu có kể chuyện? Ở đâu có vỗ tay theo nhịp? Ở đâu có trống chầu?” Này Gia chủ tử, đó là sáu nguy hiểm của việc la cà lễ hội.

8. Sáu nguy hiểm của cờ bạc

Này Gia chủ tử, mê đắm cờ bạc có sáu nguy hiểm. Thắng thì gây thù oán; thua thì buồn tiếc của; của cải mất ngay trước mắt; ra trước hội đồng, lời nói không được ai tin; bị bạn bè, đồng sự khinh thường; và không ai muốn cưới gả cho, vì người ta nghĩ: “Người này mê cờ bạc, không kham nổi việc nuôi vợ con.” Này Gia chủ tử, đó là sáu nguy hiểm của việc mê đắm cờ bạc.

9. Sáu nguy hiểm của bạn xấu

Này Gia chủ tử, giao du với bạn xấu có sáu nguy hiểm. Những kẻ mê cờ bạc, những kẻ phóng đãng, những kẻ nghiện rượu, những kẻ gian giảo, những kẻ lừa gạt, những kẻ hung bạo — tất cả trở thành bạn bè, người thân cận của mình. Này Gia chủ tử, đó là sáu nguy hiểm của việc giao du với bạn xấu.

10. Sáu nguy hiểm của sự lười biếng

Này Gia chủ tử, quen thói lười biếng có sáu nguy hiểm. Người ấy không làm việc, viện cớ: “Lạnh quá!” Người ấy không làm việc, viện cớ: “Nóng quá!” Người ấy không làm việc, viện cớ: “Trời trễ quá rồi!” Người ấy không làm việc, viện cớ: “Còn sớm quá!” Người ấy không làm việc, viện cớ: “Tôi đói quá!” Người ấy không làm việc, viện cớ: “Tôi no quá!” Người ấy sống với bao nhiêu lý do để thoái thác như vậy, nên của cải chưa có thì không sinh ra được, của cải đã có thì tiêu tan dần. Này Gia chủ tử, đó là sáu nguy hiểm của thói lười biếng. Đức Phật nói như vậy. Nói xong, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư, lại nói thêm bằng kệ:

Có bạn gọi bạn rượu,
Có bạn, bạn bằng mồm,
Bạn lúc thật hữu sự,
Mới xứng danh bạn bè.
Ngủ ngày, thông vợ người,
Ưa đấu tranh, làm hại,
Thân ác hữu, xan tham,
Sáu sự não hại người.
Ác hữu, ác bạn lữ,
Ác hạnh, hành ác xứ,
Ðời này cả đời sau,
Hai đời, người bị hại.
Cờ bạc và đàn bà, Rượu chè, múa và hát
Ngủ ngày, đi phi thời
Thân ác hữu, xan tham,
Sáu sự não hại người.
Chơi xúc xắc, uống rượu
Theo đuổi đàn bà người, Lẽ sống của người khác,
Thân cận kẻ hạ tiện, Không thân cận bậc trí,
Người ấy tự héo mòn, Như trăng trong mùa khuyết.
Rượu chè không tiền của,
Khao khát, tìm tửu điếm,
Bị chìm trong nợ nần, Như chìm trong bồn nước,
Mau chóng tự hại mình, Như kẻ mất gia đình.
Ai quen thói ngủ ngày,
Thức trọn suốt đêm trường,
Luôn luôn say sướt mướt,
Không thể sống gia đình.
Ở đây ai hay than: Ôi quá lạnh, quá nóng,
Quá chiều, quá trễ giờ,
Sẽ bỏ bê công việc.
Lợi ích, điều tốt lành, Bị trôi dạt một bên.
Ai xem lạnh và nóng,
Nhẹ nhàng hơn cỏ lau,
Làm mọi công chuyện mình,
Hạnh phúc không từ bỏ.

Nghĩa là

Có người chỉ là bạn nhậu, có người chỉ là bạn trên miệng, nhưng người bạn có mặt lúc hoạn nạn, mới thật là bạn bè. Ngủ ngày, ngoại tình với vợ người, ham gây thù chuốc oán, làm hại người, gần bạn xấu, keo kiệt tham lam: sáu điều này làm hại con người. Có bạn xấu, bè xấu, việc làm xấu, hay lui tới chỗ xấu, thì đời này lẫn đời sau, cả hai đời đều bị hại. Cờ bạc, đàn bà, rượu chè, múa hát, ngủ ngày, đi chơi lúc không phải thời, gần bạn xấu, keo kiệt tham lam: sáu điều này làm hại con người. Chơi cờ bạc, uống rượu, theo đuổi vợ người khác — người vợ mà người ta yêu quý như mạng sống — thân cận kẻ thấp hèn, không thân cận người hiểu biết, thì người ấy tự tàn lụi dần, như mặt trăng càng về cuối tháng càng khuyết. Người nghiện rượu, không tiền không của, khát rượu, tìm đến quán rượu, chìm ngập trong nợ nần như chìm trong nước, sẽ mau chóng tự hại mình, phá tan gia đình mình. Ai quen thói ngủ ngày, thức trắng suốt đêm, lúc nào cũng say sưa, thì không thể giữ nổi cuộc sống gia đình. Có người hay than: “Lạnh quá, nóng quá,” “trời chiều quá, trễ quá rồi,” rồi bỏ bê công việc như vậy, thì những điều lợi ích, tốt lành trôi qua mất. Còn ai coi lạnh và nóng nhẹ hơn cả cỏ rác, cứ làm tròn việc của mình, thì hạnh phúc không rời bỏ người ấy.

11. Bốn hạng người giả làm bạn

— Này Gia chủ tử, có bốn hạng người phải biết là kẻ thù đội lốt bạn: Người chỉ biết lấy phải biết là kẻ thù đội lốt bạn; người chỉ giỏi nói phải biết là kẻ thù đội lốt bạn; người khéo nịnh hót phải biết là kẻ thù đội lốt bạn; người rủ rê tiêu pha phải biết là kẻ thù đội lốt bạn. Này Gia chủ tử, có bốn dấu hiệu để nhận ra người chỉ biết lấy là kẻ thù đội lốt bạn. Người ấy chỉ biết lấy của người khác; cho ít mà mong được nhiều; làm tròn bổn phận chỉ vì sợ; qua lại với người khác chỉ vì lợi cho mình. Này Gia chủ tử, với bốn dấu hiệu này, người chỉ biết lấy phải được biết là kẻ thù đội lốt bạn. Này Gia chủ tử, có bốn dấu hiệu để nhận ra người chỉ giỏi nói là kẻ thù đội lốt bạn.

Người ấy tỏ ra thân tình bằng chuyện đã qua; tỏ ra thân tình bằng chuyện chưa tới; lấy lòng bằng những lời rỗng tuếch; khi có việc cần làm ngay thì viện cớ mình gặp chuyện không may. Này Gia chủ tử, với bốn dấu hiệu này, người chỉ giỏi nói phải được biết là kẻ thù đội lốt bạn. Này Gia chủ tử, có bốn dấu hiệu để nhận ra người khéo nịnh hót là kẻ thù đội lốt bạn. Người ấy đồng ý cho mình làm việc ác; cũng đồng ý cho mình làm việc thiện; trước mặt thì khen ngợi, sau lưng thì chê bai. Này Gia chủ tử, với bốn dấu hiệu này, người khéo nịnh hót phải được biết là kẻ thù đội lốt bạn. Này Gia chủ tử, có bốn dấu hiệu để nhận ra người rủ rê tiêu pha là kẻ thù đội lốt bạn.

Người ấy là bạn đồng hành khi mình mê rượu chè; là bạn đồng hành khi mình lang thang ngoài đường ban đêm; là bạn đồng hành khi mình la cà lễ hội; là bạn đồng hành khi mình mê cờ bạc. Này Gia chủ tử, với bốn dấu hiệu này, người rủ rê tiêu pha phải được biết là kẻ thù đội lốt bạn. Đức Phật nói như vậy. Nói xong, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư, lại nói thêm bằng kệ:

Người bạn gì cũng lấy,
Người bạn chỉ nói giỏi,
Người nói lời nịnh hót,
Người tiêu pha xa xỉ.
Cả bốn, không phải bạn,
Biết vậy, người trí
tránh,
Như đường đầy sợ hãi.

Nghĩa là

Một hạng bạn chỉ biết lấy, một hạng bạn chỉ giỏi nói, một hạng chỉ biết nịnh hót, một hạng chỉ rủ rê tiêu pha. Cả bốn hạng ấy đều không phải bạn, người có trí biết rõ như vậy thì tránh xa, như tránh con đường nguy hiểm.

12. Bốn hạng bạn chân thật

— Này Gia chủ tử, có bốn hạng người phải biết là bạn chân thật, có lòng tốt: Người bạn giúp đỡ phải biết là bạn chân thật; người bạn chung thủy khi vui cũng như khi khổ phải biết là bạn chân thật; người bạn khuyên điều lợi ích phải biết là bạn chân thật; người bạn có lòng thương tưởng phải biết là bạn chân thật. Này Gia chủ tử, có bốn dấu hiệu để nhận ra người bạn giúp đỡ là bạn chân thật. Người ấy che chở cho mình khi mình sơ ý; giữ gìn tài sản cho mình khi mình sơ ý; là chỗ nương tựa khi mình sợ hãi; khi có việc cần, người ấy cho mình của cải gấp đôi số mình cần. Này Gia chủ tử, với bốn dấu hiệu này, người bạn giúp đỡ phải được biết là bạn chân thật.

Này Gia chủ tử, có bốn dấu hiệu để nhận ra người bạn chung thủy khi vui cũng như khi khổ là bạn chân thật. Người ấy nói cho mình biết điều bí mật của họ; giữ kín điều bí mật của mình; không bỏ rơi mình lúc hoạn nạn; sẵn sàng hy sinh cả tính mạng vì lợi ích của mình. Này Gia chủ tử, với bốn dấu hiệu này, người bạn chung thủy phải được biết là bạn chân thật. Này Gia chủ tử, có bốn dấu hiệu để nhận ra người bạn khuyên điều lợi ích là bạn chân thật. Người ấy ngăn mình làm điều ác; khuyến khích mình làm điều thiện; cho mình nghe điều mình chưa từng nghe; chỉ cho mình con đường lên cõi trời. Này Gia chủ tử, với bốn dấu hiệu này, người bạn khuyên điều lợi ích phải được biết là bạn chân thật.

Này Gia chủ tử, có bốn dấu hiệu để nhận ra người bạn có lòng thương tưởng là bạn chân thật. Người ấy không vui khi mình gặp hoạn nạn; vui khi mình gặp may mắn; ngăn người khác nói xấu mình; khuyến khích người khác khen ngợi mình. Này Gia chủ tử, với bốn dấu hiệu này, người bạn thương tưởng phải được biết là bạn chân thật. Đức Phật nói như vậy. Nói xong, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư, lại nói thêm bằng kệ:

Bạn sẵn sàng giúp đỡ,
Bạn chung thủy khổ vui,
Bạn khuyến khích lợi ích,
Bạn có lòng thương tưởng.
Biết rõ bốn bạn này,
Người trí
phục vụ họ,
Như mẹ đối con ruột.
Người trí giữ giới luật,
Sáng như lửa đồi cao.
Người tích trữ tài sản,
Như cử chỉ con ong.
Tài sản được chồng chất,
Như ụ mối đùn cao,
Người cư xử như vậy, Chất chứa các tài sản,
Vừa đủ để lợi ích Cho chính gia đình mình.
Tài sản cần chia bốn
Ðể kết hợp bạn bè:
Một phần mình an hưởng,
Hai phần dành công việc,
Phần tư, phần để dành,
Phòng khó khăn hoạn nạn.

Nghĩa là

Người bạn sẵn lòng giúp đỡ, người bạn chung thủy cả khi khổ lẫn khi vui, người bạn khuyên điều lợi ích, người bạn có lòng thương tưởng — biết rõ bốn hạng bạn này, người có trí trân trọng chăm sóc họ, như người mẹ chăm con ruột của mình. Người có trí, giữ gìn giới hạnh, sáng rực như ngọn lửa cháy trên đồi. Người ấy gom góp của cải, như con ong đi lấy phấn hoa. Của cải cứ thế chồng chất thêm, như ụ mối ngày càng đùn cao. Ai gom góp của cải theo cách ấy, thì có đủ để lo cho gia đình mình. Nên chia của cải thành bốn phần để giữ được bạn bè: một phần để mình hưởng dùng, hai phần để làm việc, buôn bán, phần thứ tư để dành, phòng khi gặp hoạn nạn khó khăn.

13. Che chở sáu phương

— Này Gia chủ tử, người đệ tử bậc Thánh che chở sáu phương như thế nào? Này Gia chủ tử, sáu phương này phải được hiểu như sau: Phương Đông phải hiểu là cha mẹ; phương Nam là thầy dạy; phương Tây là vợ con; phương Bắc là bạn bè; phương Dưới là người làm công và người ở; phương Trên là các vị Sa-môn, Bà-la-môn. Này Gia chủ tử, người con phải đối xử với cha mẹ như phương Đông theo năm cách, tự nhủ rằng: “Đã được cha mẹ nuôi dưỡng, tôi sẽ nuôi dưỡng lại cha mẹ; tôi sẽ làm tròn bổn phận với cha mẹ; tôi sẽ giữ gìn dòng dõi và truyền thống gia đình; tôi sẽ bảo vệ phần gia tài được thừa hưởng; khi cha mẹ qua đời, tôi sẽ dâng lễ cúng tưởng nhớ các ngài.”

Này Gia chủ tử, cha mẹ được con đối xử như phương Đông theo năm cách như vậy sẽ thương tưởng con theo năm cách: Ngăn con làm điều ác; khuyến khích con làm điều thiện; dạy con một nghề; chọn cho con người bạn đời xứng đáng; đến lúc thích hợp, trao phần thừa tự cho con. Này Gia chủ tử, cha mẹ được con đối xử như phương Đông theo năm cách ấy sẽ thương tưởng con theo năm cách như vậy. Như vậy, phương Đông được che chở, trở nên an ổn, không còn sợ hãi. Này Gia chủ tử, người học trò phải đối xử với thầy như phương Nam theo năm cách: Đứng dậy chào đón thầy; hầu hạ thầy; chăm chú lắng nghe; tự tay phục vụ thầy; và học nghề một cách cẩn thận, tôn trọng.

Này Gia chủ tử, thầy được học trò đối xử như phương Nam theo năm cách như vậy sẽ thương tưởng học trò theo năm cách: Dạy cho học trò được huấn luyện chu đáo; giúp học trò nắm vững điều đã học; truyền dạy đầy đủ mọi hiểu biết của nghề; giới thiệu học trò với bạn bè, đồng sự của thầy; và lo cho học trò được an toàn về mọi phía. Này Gia chủ tử, thầy được học trò đối xử như phương Nam theo năm cách ấy sẽ thương tưởng học trò theo năm cách như vậy. Như vậy, phương Nam được che chở, trở nên an ổn, không còn sợ hãi. Này Gia chủ tử, người chồng phải đối xử với vợ như phương Tây theo năm cách: Tôn trọng vợ; không khinh thường vợ; chung thủy với vợ; giao quyền quản việc nhà cho vợ; và sắm trang sức cho vợ.

Này Gia chủ tử, người vợ được chồng đối xử như phương Tây theo năm cách như vậy sẽ thương tưởng chồng theo năm cách: Sắp xếp công việc trong nhà chu đáo; khéo đối đãi với người giúp việc; chung thủy với chồng; giữ gìn của cải chồng kiếm được; khéo léo và siêng năng trong mọi việc. Này Gia chủ tử, người vợ được chồng đối xử như phương Tây theo năm cách ấy sẽ thương tưởng chồng theo năm cách như vậy. Như vậy, phương Tây được che chở, trở nên an ổn, không còn sợ hãi. Này Gia chủ tử, người con nhà lành phải đối xử với bạn bè như phương Bắc theo năm cách: Bố thí (cho tặng nhau); nói lời dễ thương; làm điều lợi ích cho nhau; đối xử bình đẳng; và không lừa dối nhau.

Này Gia chủ tử, bạn bè được đối xử như phương Bắc theo năm cách như vậy sẽ thương tưởng người ấy theo năm cách: Che chở cho bạn khi bạn sơ ý; giữ gìn tài sản cho bạn khi bạn sơ ý; là chỗ nương tựa khi bạn sợ hãi; không bỏ rơi bạn lúc hoạn nạn; và kính trọng con cháu của bạn. Này Gia chủ tử, bạn bè được đối xử như phương Bắc theo năm cách ấy sẽ thương tưởng người ấy theo năm cách như vậy. Như vậy, phương Bắc được che chở, trở nên an ổn, không còn sợ hãi. Này Gia chủ tử, người chủ phải đối xử với người ở và người làm công như phương Dưới theo năm cách: Giao việc vừa theo sức của họ; lo cho họ ăn uống và tiền lương; chăm sóc khi họ đau ốm; chia cho họ những món ăn ngon đặc biệt; và cho họ nghỉ ngơi đúng lúc.

Này Gia chủ tử, người ở và người làm công được chủ đối xử như phương Dưới theo năm cách như vậy sẽ thương tưởng chủ theo năm cách: Dậy trước chủ; đi ngủ sau chủ; chỉ nhận những gì được cho; làm việc chu đáo; và làm lan truyền tiếng tốt của chủ. Này Gia chủ tử, người ở và người làm công được chủ đối xử như phương Dưới theo năm cách ấy sẽ thương tưởng chủ theo năm cách như vậy. Như vậy, phương Dưới được che chở, trở nên an ổn, không còn sợ hãi. Này Gia chủ tử, người con nhà lành phải đối xử với các vị Sa-môn, Bà-la-môn như phương Trên theo năm cách: Hành động thân thiện với lòng từ; lời nói thân thiện với lòng từ; suy nghĩ thân thiện với lòng từ; không đóng cửa từ chối khi các vị đến; và cúng dường các vật dụng cần thiết.

Này Gia chủ tử, các vị Sa-môn, Bà-la-môn được đối xử như phương Trên theo năm cách như vậy sẽ thương tưởng người ấy theo sáu cách: Ngăn người ấy làm điều ác; khuyến khích làm điều thiện; thương tưởng người ấy với tấm lòng tốt; dạy điều người ấy chưa nghe; làm sáng rõ điều người ấy đã nghe; và chỉ con đường lên cõi trời. Này Gia chủ tử, các vị Sa-môn, Bà-la-môn được đối xử như phương Trên theo năm cách ấy sẽ thương tưởng người ấy theo sáu cách như vậy. Như vậy, phương Trên được che chở, trở nên an ổn, không còn sợ hãi. Đức Phật nói như vậy. Nói xong, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư, lại nói thêm bằng kệ:

Cha mẹ là phương Ðông,
Sư trưởng là phương Nam,
Vợ chồng là phương Tây,
Bạn bè là phương Bắc,
Nô bộc là phương Dưới,
Sa-môn, Bà-la-môn, Có nghĩa là phương Trên.
Ðảnh lễ phương hướng ấy.
Cư sĩ vì gia đình,
Kẻ trí giữ Giới, Luật,
Từ tốn và biện tài,
Khiêm nhường và nhu thuận,
Nhờ vậy được danh xưng.
Dậy sớm không biếng nhác,
Bất động giữa hiểm nguy,
Người hiền, không phạm giới,
Nhờ vậy được danh xưng.
Nhiếp chúng, tạo nên bạn,
Từ ái, tâm bao dung,
Dẫn đạo, khuyến hóa đạo,
Nhờ vậy được danh xưng.
Bố thí và ái ngữ,
Lợi hành bất cứ ai,
Ðồng sự trong mọi việc,
Theo trường hợp xử sự.
Chính những nhiếp sự này,
Khiến thế giới xoay quanh, Như bánh xe quay lăn, Vòng theo trục xe chính.
Nhiếp sự này vắng mặt,
Không có mẹ hưởng thọ,
Sự hiếu kính của con.
Hay không cha hưởng thọ,
Do vậy bậc có trí, Ðối với nhiếp pháp này,
Như quán sát chấp trì,
Nhờ vậy thành vĩ đại,
Ðược tán thánh, danh xưng.

Nghĩa là

Cha mẹ là phương Đông, thầy dạy là phương Nam, vợ con là phương Tây, bạn bè là phương Bắc, người ở, người làm công là phương Dưới, các vị Sa-môn, Bà-la-môn là phương Trên. Biết lễ bái các phương ấy như vậy, người cư sĩ lo tròn cho gia đình mình Người có trí, giữ gìn giới luật, dịu dàng và khéo ăn nói, khiêm nhường và mềm mỏng: người như vậy được tiếng tốt. Người siêng năng, không lười biếng, không nao núng giữa gian nguy, sống hiền lành, không phá giới: người như vậy được tiếng tốt. Người biết thu phục lòng người, kết thêm bạn, rộng lượng, không keo kiệt, biết dẫn dắt, dạy dỗ, khuyên nhủ người khác: người như vậy được tiếng tốt. Cho tặng và nói lời dễ thương, làm điều lợi ích cho mọi người, đối xử bình đẳng trong mọi việc, tùy từng trường hợp mà cư xử cho phải. Chính những cách thu phục lòng người này làm cho thế giới vận hành, như cái trục giữ cho bánh xe lăn đều. Nếu thiếu những cách thu phục ấy, thì cha mẹ cũng không nhận được sự kính trọng, tôn vinh từ con cái; dù là mẹ hay là cha cũng vậy. Vì vậy, người có trí trân trọng những cách thu phục này, giữ gìn và thực hành chúng, nhờ đó mà trở nên lớn lao, được mọi người ca ngợi, có tiếng tốt.

Nghe vậy, Thi-ca-la-việt, con trai gia chủ, nói với Đức Phật: — Thật tuyệt vời, bạch Đức Phật! Thật tuyệt vời, bạch Đức Phật! Như người dựng đứng lại vật đã bị lật úp, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho người lạc, hay thắp đèn trong bóng tối để người có mắt thấy được hình sắc — cũng vậy, Đức Phật đã dùng nhiều cách để làm sáng tỏ Pháp. Nay con xin nương tựa Đức Phật, nương tựa Pháp và nương tựa Tăng đoàn các Tỷ-kheo (những vị tu sĩ khất thực). Mong Đức Phật ghi nhận con là người đệ tử tại gia đã quy y, từ nay cho đến hết đời. Kinh Giáo Thọ Thi-ca-la-việt (hết).