Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Tăng Chi Bộ › Kinh Các Lợi Ích Của Tâm Từ

Kinh Các Lợi Ích Của Tâm Từ

Mettāsutta · AN8.1 · 34 đoạn

Mở đầu Tăng Chi Tám: tám lợi ích của tâm giải thoát bằng từ — ngủ ngon, dậy an, không ác mộng, được người và phi nhân thương mến, được chư thiên che chở, lửa độc gươm không hại được, và thấp nhất cũng sinh về cõi Phạm thiên. Các bài kệ kết luận đặt tâm từ lên trên mọi lễ tế lớn của vua chúa xưa: tất cả không bằng một phần mười sáu của tâm từ khéo tu, như các sao không bằng một phần mười sáu ánh trăng. Trong bài kệ cuối của bài, bản Minh Châu gộp dòng 6.4 vào dòng trước nên dòng ấy được diễn lại từ Pāli.

Điểm thực hành

Tám lợi ích này cho một lý do rất thực tế để rải tâm từ mỗi ngày, và lợi ích đầu tiên kiểm chứng được ngay tối nay: ngủ an lạc. Trước khi ngủ, dành năm phút rải từ theo thứ tự — mình, người thân, người trung lập, người khó ưa — và so sánh giấc ngủ. Bài kinh hứa quả ở ngay hiện tại trước khi hứa cõi Phạm thiên.

Phẩm Tâm Từ Kinh Các Lợi Ích Của Tâm Từ Tôi nghe kể lại như vầy: Một thời, Đức Thế Tôn ở tại Xá-vệ, trong rừng Kỳ-đà, vườn của ông Cấp Cô Độc. Tại đấy, Đức Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo!” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” các Tỷ-kheo ấy đáp lại Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói như sau: “Tâm giải thoát bằng từ, này các Tỷ-kheo — khi được thân cận, được tu tập, được làm cho sung mãn, được dùng làm cỗ xe, được dùng làm nền tảng, được an trú theo, được tích lũy, được khéo thực hiện — thì có thể chờ đợi tám lợi ích. Tám lợi ích nào? Ngủ được an lạc; thức dậy được an lạc; không thấy ác mộng; được loài người thương mến; được các phi nhân thương mến; được chư thiên che chở; lửa, thuốc độc hay gươm đao không làm hại được; và nếu chưa thấu suốt gì cao hơn, vị ấy sẽ sinh về cõi Phạm thiên.

Tâm giải thoát bằng từ, này các Tỷ-kheo — khi được thân cận, được tu tập, được làm cho sung mãn, được dùng làm cỗ xe, được dùng làm nền tảng, được an trú theo, được tích lũy, được khéo thực hiện — thì có thể chờ đợi tám lợi ích này.”

Ai tu tập từ tâm
Vô lượng thường ức niệm
Các kiết sử yếu dần
Thấy được sanh y diệt
Với tâm không ác độc Từ mẫn mọi chúng sanh
Do vậy, vị ấy thành Bậc thuần nhất chí thiện
Với tâm ý từ mẫn Ðối với mọi chúng sanh
Bậc Thánh khéo thực hiện Nhiều công đức tốt lành
Sau khi đã chinh phục Rất đông đảo loài người
Các ẩn sĩ vua chúa Theo nghi lễ tế tự
Lễ tế ngựa tế người
Lễ uống nước thắng trận Lễ ném cầu may rủi Lễ rút lui khóa cửa
Bậc khéo tu từ tâm
Không được phần mười sáu
Như ánh sáng mặt trăng Ðối với các quần sao
cũng không đáng được một phần mười sáu của ánh trăng.
Không giết, không bảo giết
Không thắng, không bảo thắng
Từ tâm mọi chúng sanh
Không hận thù với ai.

Nghĩa là

Người có chánh niệm mà tu tập tâm từ vô lượng thì các kiết sử yếu dần, khi thấy sự diệt tận của các duyên sinh. Tâm từ được tu tập không giới hạn, luôn được ghi nhớ. Các trói buộc của tâm sẽ mỏng dần đi. Vị ấy thấy được sự chấm dứt của các ‘sanh y’ — những chỗ bám để tái sinh. Chỉ cần hướng tâm không ác độc và lòng từ đến cho mọi chúng sinh. Nhờ đó, người ấy trở thành người thiện lành trọn vẹn. Với tâm ý đầy lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sinh. Bậc thánh khéo tạo được rất nhiều công đức tốt lành. Các vua chúa và ẩn sĩ xưa chinh phục khắp mặt đất đông đảo chúng sinh. Rồi đi khắp nơi cử hành các lễ tế theo nghi lễ. Nào là lễ tế ngựa, lễ tế người. Và các lễ tế khác: lễ uống soma của vua, lễ ném chốt cầu may, lễ mở cửa không ngăn ngại. Tất cả những lễ tế ấy không sánh bằng tâm của người khéo tu tập tâm từ. Chúng không đáng bằng một phần mười sáu (của tâm từ ấy). Như tất cả các quần sao so với ánh sáng của mặt trăng. Nghĩa là: các vì sao cộng lại cũng không bằng một phần mười sáu ánh trăng — cũng vậy, mọi lễ tế không bằng một phần nhỏ của tâm từ. (Dòng này của bản Pāli được Minh Châu gộp vào dòng trước nên bản hiện đại diễn lại từ Pāli.) Không tự mình giết hại, cũng không sai bảo người khác giết. Không chinh phục ai, cũng không xúi giục sự chinh phục. Người có tâm từ đối với mọi chúng sinh. Thì không có hận thù với bất kỳ ai.”

Bài thứ 1.