Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Tăng Chi Bộ › Kinh Kamboja

Kinh Kamboja

Kambojasutta · AN4.80 · 18 đoạn

Ānanda hỏi vì sao, trong xã hội thời Đức Phật, phụ nữ không ngồi trong hội đồng, không đảm đương công việc sinh kế và không đi buôn xa đến Kamboja. Đức Phật trả lời bằng bốn tính chất mà truyền thống thời ấy gán cho phụ nữ: hay phẫn nộ, hay ganh tị, hay keo kiệt và kém trí tuệ. Bài kinh phản ánh quan niệm của xã hội Ấn Độ cổ về vị trí của phụ nữ, và khép lại phẩm Con Đường Chắc Chắn. (Bản dịch hiện đại giữ đúng nội dung bản gốc Pāli để người đọc tự đối chiếu với bối cảnh thời đại.)

Điểm thực hành

Bài kinh là một tài liệu của thời đại nó ra đời: hãy đọc nó như một tấm gương về cách một xã hội gán tính chất cho cả một nhóm người, rồi tự hỏi ngày nay mình còn đang gán những nhãn tương tự — cho một giới, một nhóm tuổi, một vùng miền — trong tuyển dụng, giao việc và đánh giá con người hay không.

Phẩm Con Đường Chắc Chắn Kinh Kamboja Một thời, Đức Phật đang ở tại Kosambī, trong tu viện Ghosita. Rồi Tôn giả Ānanda đến gặp Đức Phật; sau khi đến, đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch Đức Phật: “Bạch Ngài, do nhân gì, do duyên gì, mà phụ nữ không ngồi trong hội đồng, không đảm đương công việc sinh kế, và không đi đến Kamboja?” “Này Ānanda, phụ nữ hay phẫn nộ; này Ānanda, phụ nữ hay ganh tị; này Ānanda, phụ nữ hay keo kiệt; này Ānanda, phụ nữ kém trí tuệ — này Ānanda, đây là nhân, đây là duyên, mà phụ nữ không ngồi trong hội đồng, không đảm đương công việc sinh kế, và không đi đến Kamboja.” Bài thứ 10. Phẩm Con Đường Chắc Chắn là phẩm thứ ba (của phần năm mươi thứ hai).

Kệ tóm tắt của phẩm:

Kinh Nỗ Lực, kinh Chánh Kiến, kinh Chân Nhân, kinh Cô Dâu và hai kinh Tối Thượng; kinh Kusinārā, kinh Không Thể Nghĩ Bàn, kinh Cúng Dường, kinh Buôn Bán và kinh Kamboja.