Kinh Người Ác (2)
Bài kinh song song với bài Con Đường Mười Chi, nhưng bốn hạng người mang nhãn người ác và người hiền thiện thay vì người không chân nhân và bậc chân nhân: thành tựu mười chi tà (từ tà kiến đến tà giải thoát) là người ác, dẫn người khác theo thì ác hơn; thành tựu mười chi chánh là người hiền thiện, khuyến khích người khác thì hiền thiện hơn nữa. Bản dịch Minh Châu cho bài này chỉ còn một ghi chú ngắn, nên toàn văn được soạn từ bản Pāli.
Điểm thực hànhCùng một con đường mười chi, nhãn gọi đổi nhưng nội dung không đổi: ác và thiện được định bởi chi mình đi và chi mình dẫn người khác đi.
21. Phẩm Bậc Chân Nhân
Kinh Người Ác (2)
“Này các Tỷ-kheo (vị tu sĩ khất thực), Ta sẽ giảng cho các thầy về người ác và người còn ác hơn người ác;
về người hiền thiện và người còn hiền thiện hơn người hiền thiện.
Hãy nghe và khéo để tâm, Ta sẽ nói.” Các Tỷ-kheo vâng đáp, và Thế Tôn nói như sau:
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người ác?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình có tà kiến, có tà tư duy, có tà ngữ, có tà nghiệp, có tà mạng, có tà tinh tấn, có tà niệm, có tà định, có tà trí, và có tà giải thoát.
Người này, này các Tỷ-kheo, được gọi là người ác.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người còn ác hơn người ác?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình có tà kiến và khích lệ người khác có tà kiến; tự mình có tà tư duy và khích lệ người khác có tà tư duy; tự mình có tà ngữ và khích lệ người khác có tà ngữ; tự mình có tà nghiệp và khích lệ người khác có tà nghiệp; tự mình có tà mạng và khích lệ người khác có tà mạng; tự mình có tà tinh tấn và khích lệ người khác có tà tinh tấn; tự mình có tà niệm và khích lệ người khác có tà niệm; tự mình có tà định và khích lệ người khác có tà định; tự mình có tà trí và khích lệ người khác có tà trí;
tự mình có tà giải thoát và khích lệ người khác có tà giải thoát.
Người này, này các Tỷ-kheo, được gọi là người còn ác hơn người ác.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người hiền thiện?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình có chánh kiến, có chánh tư duy, có chánh ngữ, có chánh nghiệp, có chánh mạng, có chánh tinh tấn, có chánh niệm, có chánh định, có chánh trí, và có chánh giải thoát.
Người này, này các Tỷ-kheo, được gọi là người hiền thiện.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người còn hiền thiện hơn người hiền thiện?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình có chánh kiến và khích lệ người khác có chánh kiến; tự mình có chánh tư duy và khích lệ người khác có chánh tư duy; tự mình có chánh ngữ và khích lệ người khác có chánh ngữ; tự mình có chánh nghiệp và khích lệ người khác có chánh nghiệp; tự mình có chánh mạng và khích lệ người khác có chánh mạng; tự mình có chánh tinh tấn và khích lệ người khác có chánh tinh tấn; tự mình có chánh niệm và khích lệ người khác có chánh niệm; tự mình có chánh định và khích lệ người khác có chánh định; tự mình có chánh trí và khích lệ người khác có chánh trí;
tự mình có chánh giải thoát và khích lệ người khác có chánh giải thoát.
Người này, này các Tỷ-kheo, được gọi là người còn hiền thiện hơn người hiền thiện.”
Bài thứ 8.
Nghĩa là
Tiêu đề bộ kinh và số thứ tự của bài kinh. Tên phẩm thứ hai mươi mốt. Tên bài kinh. Đức Phật tuyên bố giảng bốn hạng người (phần đầu). Phần cuối của lời tuyên bố. Lời mời gọi lắng nghe (bản Pāli viết rút gọn phần vâng đáp và mở đầu). Hỏi về hạng thứ nhất. Hạng thứ nhất thành tựu mười chi tà (bản Pāli viết rút gọn, triển khai đầy đủ). Kết luận hạng thứ nhất. Hỏi về hạng thứ hai. Hạng thứ hai: tự thành tựu chín chi tà đầu và khích lệ người khác (triển khai phần rút gọn). Chi thứ mười: tà giải thoát. Kết luận hạng thứ hai. Hỏi về hạng thứ ba. Hạng thứ ba thành tựu mười chi chánh (triển khai phần rút gọn). Kết luận hạng thứ ba. Hỏi về hạng thứ tư. Hạng thứ tư: tự thành tựu chín chi chánh đầu và khích lệ người khác (triển khai phần rút gọn). Chi thứ mười: chánh giải thoát. Kết luận hạng thứ tư. Kết thúc bài kinh.