Hành Phi Pháp Và Hành Đúng Pháp — Vì Sao Người Xuống Địa Ngục, Người Lên Trời
Một Bà-la-môn hỏi Đức Phật: do nhân gì mà có chúng sinh sinh vào địa ngục, có chúng sinh sinh lên thiên giới? Câu trả lời tóm tắt — do hành phi pháp và hành không đều, hoặc do hành đúng pháp và hành đều đặn — được triển khai thành mười nghiệp đạo quen thuộc, chia theo thân (3), khẩu (4), ý (3), với định nghĩa đầy đủ của từng nghiệp. Vị Bà-la-môn hoan hỷ quy y, khép lại phẩm Thân Sinh Từ Nghiệp.
Điểm thực hành“Hành không đều” là một hình ảnh đáng nhớ: đời sống chao đảo, lúc thiện lúc ác tùy hứng, cũng là một nhân đi xuống. Tu tập là làm cho hành đúng pháp trở thành đều đặn — như một nhịp sống ổn định, không phải những đợt sốt sắng ngắn ngủi.
Phẩm Thân Sinh Từ Nghiệp Kinh Hành Phi Pháp, Hành Không Đều Bấy giờ, một Bà-la-môn đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm. Sau khi nói những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vị Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn: — “Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, mà ở đây một số chúng sinh, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục?” — “Do nhân hành phi pháp và hành không đều, này Bà-la-môn, mà ở đây một số chúng sinh, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.” — “Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, mà ở đây một số chúng sinh, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cõi lành, thiên giới, cõi đời này?”
— “Do nhân hành đúng pháp và hành đều đặn, này Bà-la-môn, mà ở đây một số chúng sinh, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cõi lành, thiên giới, cõi đời này.” — “Con không hiểu được ý nghĩa chi tiết của lời Tôn giả Gotama vừa nói tóm tắt. Lành thay, nếu Tôn giả Gotama thuyết Pháp cho con thế nào để con hiểu được ý nghĩa chi tiết của lời tóm tắt ấy!” — “Vậy này Bà-la-môn, hãy nghe và khéo tác ý; Ta sẽ nói.” — “Thưa vâng, Tôn giả.” Vị Bà-la-môn ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: — “Có ba loại hành phi pháp và hành không đều về thân, này Bà-la-môn; có bốn loại về lời nói; có ba loại về tâm ý. Và thế nào, này Bà-la-môn, là ba loại hành phi pháp và hành không đều về thân? Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sinh, hung dữ, tay đẫm máu, chuyên tâm giết hại đánh đập, không chút lòng thương xót đối với mọi loài hữu tình. Người ấy lấy của không cho: tài sản, đồ dùng của người khác, ở làng hay ở rừng, người ấy lấy trộm những gì không được cho. Người ấy tà hạnh trong các dục: có quan hệ với người nữ có mẹ che chở, có cha che chở, có cả cha mẹ che chở, có anh trai che chở, có chị em gái che chở, có bà con che chở, có dòng họ che chở, có Pháp che chở, có chồng, có hình phạt bảo vệ, cho đến người nữ mới được đeo vòng hoa hứa hôn — người ấy đều có quan hệ với những người nữ như vậy.
Như vậy, này Bà-la-môn, là ba loại hành phi pháp và hành không đều về thân. Và thế nào, này Bà-la-môn, là bốn loại hành phi pháp và hành không đều về lời nói? Người ấy nói láo. Khi được đưa vào hội trường, hay giữa đám đông, hay giữa bà con, hay giữa phường hội, hay giữa hoàng tộc, được dẫn ra làm chứng và bị hỏi: “Này bạn, hãy nói điều bạn biết”, người ấy không biết mà nói “tôi biết”, biết mà nói “tôi không biết”; không thấy mà nói “tôi thấy”, thấy mà nói “tôi không thấy”. Như vậy, người ấy cố ý nói láo vì mình, vì người khác, hay vì một chút lợi lộc vật chất. Người ấy nói hai lưỡi: nghe ở đây rồi đi nói ở kia để chia rẽ những người này; nghe ở kia rồi về nói ở đây để chia rẽ những người kia. Như vậy, người ấy chia rẽ những người đang hòa hợp, xúi giục những người đã chia rẽ; ưa thích chia rẽ, vui thích chia rẽ, hoan hỷ trong chia rẽ, nói những lời gây chia rẽ. Người ấy nói lời độc ác: lời nói thô lỗ, cộc cằn, cay đắng cho người khác, xúc phạm người khác, gần với sân hận, không đưa đến định tâm — người ấy nói những lời như vậy. Người ấy nói lời phù phiếm: nói không đúng lúc, nói điều không thật, nói điều vô ích, nói trái Pháp, nói trái Luật; lời nói không có giá trị, không đúng lúc, không có căn cứ, không có giới hạn, không liên hệ đến lợi ích.
Như vậy, này Bà-la-môn, là bốn loại hành phi pháp và hành không đều về lời nói. Và thế nào, này Bà-la-môn, là ba loại hành phi pháp và hành không đều về tâm ý? Người ấy tham đắm: tài sản, đồ dùng của người khác, người ấy tham muốn: “Ôi, mong sao của người kia trở thành của mình!” Người ấy có tâm sân hận, ý nghĩ hư hỏng: “Mong sao những chúng sinh này bị giết, bị trói, bị tiêu diệt, bị hủy hoại, hay đừng có tồn tại nữa!” Người ấy có tà kiến, cái thấy đảo ngược: “Không có ý nghĩa trong bố thí, trong cúng tế, trong lễ vật; không có quả, không có kết quả của các nghiệp thiện và ác đã làm; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ, không có cha, không có các chúng sinh hóa sinh; không có trong đời các Sa-môn, Bà-la-môn đi đúng đường, thực hành đúng đắn, tự mình thắng tri, chứng ngộ đời này và đời sau rồi tuyên bố.”
Như vậy, này Bà-la-môn, là ba loại hành phi pháp và hành không đều về tâm ý. Do nhân hành phi pháp và hành không đều như vậy, này Bà-la-môn, mà ở đây một số chúng sinh, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Có ba loại hành đúng pháp và hành đều đặn về thân, này Bà-la-môn; có bốn loại về lời nói; có ba loại về tâm ý. Và thế nào, này Bà-la-môn, là ba loại hành đúng pháp và hành đều đặn về thân? Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sinh, tránh xa sát sinh; buông bỏ gậy gộc, buông bỏ vũ khí, biết hổ thẹn, giàu lòng thương xót, sống với tâm từ bi thương yêu mọi loài hữu tình. Người ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho: tài sản, đồ dùng của người khác, ở làng hay ở rừng, người ấy không lấy trộm những gì không được cho. Người ấy từ bỏ tà hạnh trong các dục, tránh xa tà hạnh trong các dục: người nữ có mẹ che chở, có cha che chở, có cả cha mẹ che chở, có anh trai che chở, có chị em gái che chở, có bà con che chở, có dòng họ che chở, có Pháp che chở, có chồng, có hình phạt bảo vệ, cho đến người nữ mới được đeo vòng hoa hứa hôn — người ấy không có quan hệ với những người nữ như vậy.
Như vậy, này Bà-la-môn, là ba loại hành đúng pháp và hành đều đặn về thân. Và thế nào, này Bà-la-môn, là bốn loại hành đúng pháp và hành đều đặn về lời nói? Người ấy từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo. Khi được đưa vào hội trường, hay giữa đám đông, hay giữa bà con, hay giữa phường hội, hay giữa hoàng tộc, được dẫn ra làm chứng và bị hỏi: “Này bạn, hãy nói điều bạn biết”, người ấy không biết thì nói “tôi không biết”, biết thì nói “tôi biết”; không thấy thì nói “tôi không thấy”, thấy thì nói “tôi thấy”. Như vậy, người ấy không cố ý nói láo vì mình, vì người khác, hay vì một chút lợi lộc vật chất. Người ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi — không nghe ở đây rồi đi nói ở kia để chia rẽ những người này, không nghe ở kia rồi về nói ở đây để chia rẽ những người kia. Như vậy, người ấy hòa giải những người đang chia rẽ, củng cố những người đang hòa hợp; ưa thích hòa hợp, vui thích hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, nói những lời gây hòa hợp. Người ấy từ bỏ nói lời độc ác, tránh xa nói lời độc ác: lời nói không lỗi lầm, dễ nghe, đáng yêu, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người ưa thích, được nhiều người hài lòng — người ấy nói những lời như vậy. Người ấy từ bỏ nói lời phù phiếm, tránh xa nói lời phù phiếm: nói đúng lúc, nói điều thật, nói điều có ích, nói đúng Pháp, nói đúng Luật; lời nói có giá trị, đúng lúc, có căn cứ, có giới hạn, liên hệ đến lợi ích.
Như vậy, này Bà-la-môn, là bốn loại hành đúng pháp và hành đều đặn về lời nói. Và thế nào, này Bà-la-môn, là ba loại hành đúng pháp và hành đều đặn về tâm ý? Người ấy không tham đắm: tài sản, đồ dùng của người khác, người ấy không tham muốn: “Ôi, mong sao của người kia trở thành của mình!” — người ấy không nghĩ như vậy. Người ấy có tâm không sân hận, ý nghĩ không hư hỏng: “Mong sao những chúng sinh này không thù oán, không xung đột, không khổ đau, tự gìn giữ mình được an lạc!” Người ấy có chánh kiến, cái thấy không đảo ngược: “Có ý nghĩa trong bố thí, trong cúng tế, trong lễ vật; có quả, có kết quả của các nghiệp thiện và ác đã làm; có đời này, có đời sau; có mẹ, có cha, có các chúng sinh hóa sinh; có trong đời các Sa-môn, Bà-la-môn đi đúng đường, thực hành đúng đắn, tự mình thắng tri, chứng ngộ đời này và đời sau rồi tuyên bố.”
Như vậy, này Bà-la-môn, là ba loại hành đúng pháp và hành đều đặn về tâm ý. Do nhân hành đúng pháp và hành đều đặn như vậy, này Bà-la-môn, mà ở đây một số chúng sinh, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cõi lành, thiên giới, cõi đời này.” “Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại vật đã bị lật úp, mở ra vật đã bị che đậy, chỉ đường cho người lạc lối, hay cầm đèn sáng vào chỗ tối tăm để những ai có mắt có thể thấy sắc — cũng vậy, Pháp đã được Tôn giả Gotama tuyên thuyết bằng nhiều phương tiện. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama ghi nhận con là đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung.”
Bài thứ 10. Phẩm Thân Sinh Từ Nghiệp là phẩm thứ nhất.