Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Tăng Chi Bộ › Sự Tự Tin Của Nữ Cư Sĩ

Sự Tự Tin Của Nữ Cư Sĩ

Visāradasutta · AN10.215 · 30 đoạn

Đức Phật dạy: nữ cư sĩ thành tựu mười nghiệp đạo bất thiện thì sống trong gia đình mà không có sự tự tin vững vàng (vô úy); thành tựu mười pháp thiện thì sống với sự tự tin vững vàng. Quả của mười nghiệp không chỉ ở đời sau — nó hiện ngay ở đời này, trong cảm giác an ổn hay bất an của chính người sống trong nhà mình.

Điểm thực hành

Sự tự tin vững vàng không đến từ địa vị hay lời khen, mà từ một đời sống không có gì phải giấu: mười nghiệp trong sạch cho ta dám ngẩng đầu trong chính ngôi nhà của mình. Khi thấy bất an vô cớ, hãy kiểm lại mười nghiệp trước khi tìm nguyên nhân bên ngoài.

Phẩm Thân Sinh Từ Nghiệp Kinh Sự Tự Tin — Nữ cư sĩ thành tựu mười pháp, này các Tỷ-kheo, sống ở gia đình mà không có sự tự tin vững vàng. Mười pháp ấy là gì? Bà sát sinh, hung dữ, tay đẫm máu, chuyên tâm giết hại đánh đập, không chút lòng thương xót đối với mọi loài hữu tình. Bà lấy của không cho: tài sản, đồ dùng của người khác, ở làng hay ở rừng, bà lấy trộm những gì không được cho. Bà tà hạnh trong các dục: có quan hệ với những người nam không thuộc về mình — người có vợ, người đã hứa hôn, cho đến người mới được đeo vòng hoa hứa hôn. Bà nói láo: khi làm chứng, không biết mà nói “tôi biết”, biết mà nói “tôi không biết”, không thấy mà nói “tôi thấy”, thấy mà nói “tôi không thấy”, cố ý nói láo vì mình, vì người khác hay vì chút lợi lộc.

Bà nói hai lưỡi: nghe ở đây rồi đi nói ở kia để chia rẽ người này, nghe ở kia rồi về nói ở đây để chia rẽ người kia; bà chia rẽ người đang hòa hợp, xúi giục người đã chia rẽ, ưa thích và nói lời gây chia rẽ. Bà nói lời độc ác: lời nói thô lỗ, cộc cằn, cay đắng cho người khác, xúc phạm người khác, gần với sân hận, không đưa đến định tâm. Bà nói lời phù phiếm: nói không đúng lúc, nói điều không thật, nói điều vô ích, nói trái Pháp, nói trái Luật; lời nói không có giá trị, không căn cứ, không giới hạn. Bà tham đắm: tài sản, đồ dùng của người khác, bà tham muốn: “Ôi, mong sao của người kia trở thành của mình!”. Bà có tâm sân hận, ý nghĩ hư hỏng: “Mong sao những chúng sinh này bị giết, bị trói, bị tiêu diệt, bị hủy hoại, hay đừng có tồn tại nữa!”.

Bà có tà kiến: “Không có ý nghĩa trong bố thí, cúng tế, lễ vật; không có quả của nghiệp thiện ác; không có đời này, đời sau; không có mẹ cha; không có chúng sinh hóa sinh; không có Sa-môn, Bà-la-môn chứng ngộ đời này đời sau”. Này các Tỷ-kheo, nữ cư sĩ thành tựu mười pháp này sống ở gia đình mà không có sự tự tin vững vàng. Nữ cư sĩ thành tựu mười pháp, này các Tỷ-kheo, sống ở gia đình với sự tự tin vững vàng. Mười pháp ấy là gì? Bà từ bỏ sát sinh, tránh xa sát sinh; buông bỏ gậy gộc và vũ khí, biết hổ thẹn, giàu lòng thương xót, sống từ bi với mọi loài hữu tình. Bà từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho: tài sản của người khác, ở làng hay ở rừng, bà không lấy trộm những gì không được cho.

Bà từ bỏ tà hạnh trong các dục, tránh xa tà hạnh trong các dục: không có quan hệ với những người nam không thuộc về mình — người có vợ, người đã hứa hôn, cho đến người mới được đeo vòng hoa hứa hôn. Bà từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo: khi làm chứng, không biết thì nói “tôi không biết”, biết thì nói “tôi biết”, không thấy thì nói “tôi không thấy”, thấy thì nói “tôi thấy”; bà không cố ý nói láo vì bất cứ lý do gì. Bà từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi: không mang chuyện chỗ này sang chỗ kia để chia rẽ; bà hòa giải người đang chia rẽ, củng cố người đang hòa hợp, ưa thích và nói lời gây hòa hợp. Bà từ bỏ nói lời độc ác, tránh xa nói lời độc ác: lời nói không lỗi lầm, dễ nghe, đáng yêu, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người ưa thích.

Bà từ bỏ nói lời phù phiếm, tránh xa nói lời phù phiếm: nói đúng lúc, nói điều thật, nói điều có ích, nói đúng Pháp, nói đúng Luật; lời nói có giá trị, có căn cứ, có giới hạn, liên hệ đến lợi ích. Bà không tham đắm: tài sản, đồ dùng của người khác, bà không tham muốn chúng trở thành của mình. Bà có tâm không sân hận, ý nghĩ không hư hỏng: “Mong sao những chúng sinh này không thù oán, không xung đột, không khổ đau, tự gìn giữ mình được an lạc!”. Bà có chánh kiến: “Có ý nghĩa trong bố thí, cúng tế, lễ vật; có quả của nghiệp thiện ác; có đời này, đời sau; có mẹ cha; có chúng sinh hóa sinh; có Sa-môn, Bà-la-môn chứng ngộ đời này đời sau”. Này các Tỷ-kheo, nữ cư sĩ thành tựu mười pháp này sống ở gia đình với sự tự tin vững vàng.”

Bài thứ 5.