Rơi Vào Địa Ngục (1) — Mười Pháp Với Định Nghĩa Đầy Đủ
Mở đầu phẩm Thân Sinh Từ Nghiệp, Đức Phật dạy: người thành tựu mười pháp thì như bị chính nghiệp của mình mang đi và đặt xuống trong địa ngục; thành tựu mười pháp đối nghịch thì được đặt lên thiên giới. Khác với các kinh rút gọn, kinh này triển khai định nghĩa đầy đủ của từng nghiệp đạo — người sát sinh hung dữ tay đẫm máu, người nói láo dám đổi trắng thay đen khi làm chứng, cho đến đủ mười, bao gồm cả nội dung của tà kiến và chánh kiến được trích nguyên văn.
Điểm thực hànhHình ảnh “như bị mang đi và đặt xuống” nhắc ta: không ai phán xét hay trừng phạt từ bên ngoài — chính tổng số hành động mỗi ngày tự tay “đặt” ta vào cảnh giới tương xứng. Muốn đổi chỗ đặt, chỉ có một cách: đổi mười pháp đang sống.
Phẩm Thân Sinh Từ Nghiệp Kinh Rơi Vào Địa Ngục Thứ Nhất — Người thành tựu mười pháp, này các Tỷ-kheo, như bị chính nghiệp ấy mang đi và đặt xuống như vậy trong địa ngục. Mười pháp ấy là gì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sát sinh, hung dữ, tay đẫm máu, chuyên tâm giết hại đánh đập, không chút lòng thương xót đối với mọi loài hữu tình. Người ấy lấy của không cho: tài sản, đồ dùng của người khác, ở làng hay ở rừng, người ấy lấy trộm những gì không được cho. Người ấy tà hạnh trong các dục: có quan hệ với người nữ có mẹ che chở, có cha che chở, có cả cha mẹ che chở, có anh trai che chở, có chị em gái che chở, có bà con che chở, có dòng họ che chở, có Pháp che chở, có chồng, có hình phạt bảo vệ, cho đến người nữ mới được đeo vòng hoa hứa hôn — người ấy đều có quan hệ với những người nữ như vậy.
Người ấy nói láo. Khi được đưa vào hội trường, hay giữa đám đông, hay giữa bà con, hay giữa phường hội, hay giữa hoàng tộc, được dẫn ra làm chứng và bị hỏi: “Này bạn, hãy nói điều bạn biết”, người ấy không biết mà nói “tôi biết”, biết mà nói “tôi không biết”; không thấy mà nói “tôi thấy”, thấy mà nói “tôi không thấy”. Như vậy, người ấy cố ý nói láo vì mình, vì người khác, hay vì một chút lợi lộc vật chất. Người ấy nói hai lưỡi: nghe ở đây rồi đi nói ở kia để chia rẽ những người này; nghe ở kia rồi về nói ở đây để chia rẽ những người kia. Như vậy, người ấy chia rẽ những người đang hòa hợp, xúi giục những người đã chia rẽ; ưa thích chia rẽ, vui thích chia rẽ, hoan hỷ trong chia rẽ, nói những lời gây chia rẽ.
Người ấy nói lời độc ác: lời nói thô lỗ, cộc cằn, cay đắng cho người khác, xúc phạm người khác, gần với sân hận, không đưa đến định tâm — người ấy nói những lời như vậy. Người ấy nói lời phù phiếm: nói không đúng lúc, nói điều không thật, nói điều vô ích, nói trái Pháp, nói trái Luật; lời nói không có giá trị, không đúng lúc, không có căn cứ, không có giới hạn, không liên hệ đến lợi ích. Người ấy tham đắm: tài sản, đồ dùng của người khác, người ấy tham muốn: “Ôi, mong sao của người kia trở thành của mình!” Người ấy có tâm sân hận, ý nghĩ hư hỏng: “Mong sao những chúng sinh này bị giết, bị trói, bị tiêu diệt, bị hủy hoại, hay đừng có tồn tại nữa!”
Người ấy có tà kiến, cái thấy đảo ngược: “Không có ý nghĩa trong bố thí, trong cúng tế, trong lễ vật; không có quả, không có kết quả của các nghiệp thiện và ác đã làm; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ, không có cha, không có các chúng sinh hóa sinh; không có trong đời các Sa-môn, Bà-la-môn đi đúng đường, thực hành đúng đắn, tự mình thắng tri, chứng ngộ đời này và đời sau rồi tuyên bố.” Này các Tỷ-kheo, người thành tựu mười pháp này, như bị mang đi và đặt xuống như vậy trong địa ngục. Người thành tựu mười pháp, này các Tỷ-kheo, như bị mang đi và đặt xuống như vậy trên thiên giới. Mười pháp ấy là gì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người từ bỏ sát sinh, tránh xa sát sinh; buông bỏ gậy gộc, buông bỏ vũ khí, biết hổ thẹn, giàu lòng thương xót, sống với tâm từ bi thương yêu mọi loài hữu tình.
Người ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho: tài sản, đồ dùng của người khác, ở làng hay ở rừng, người ấy không lấy trộm những gì không được cho. Người ấy từ bỏ tà hạnh trong các dục, tránh xa tà hạnh trong các dục: người nữ có mẹ che chở, có cha che chở, có cả cha mẹ che chở, có anh trai che chở, có chị em gái che chở, có bà con che chở, có dòng họ che chở, có Pháp che chở, có chồng, có hình phạt bảo vệ, cho đến người nữ mới được đeo vòng hoa hứa hôn — người ấy không có quan hệ với những người nữ như vậy. Người ấy từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo. Khi được đưa vào hội trường, hay giữa đám đông, hay giữa bà con, hay giữa phường hội, hay giữa hoàng tộc, được dẫn ra làm chứng và bị hỏi: “Này bạn, hãy nói điều bạn biết”, người ấy không biết thì nói “tôi không biết”, biết thì nói “tôi biết”; không thấy thì nói “tôi không thấy”, thấy thì nói “tôi thấy”. Như vậy, người ấy không cố ý nói láo vì mình, vì người khác, hay vì một chút lợi lộc vật chất.
Người ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi — không nghe ở đây rồi đi nói ở kia để chia rẽ những người này, không nghe ở kia rồi về nói ở đây để chia rẽ những người kia. Như vậy, người ấy hòa giải những người đang chia rẽ, củng cố những người đang hòa hợp; ưa thích hòa hợp, vui thích hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, nói những lời gây hòa hợp. Người ấy từ bỏ nói lời độc ác, tránh xa nói lời độc ác: lời nói không lỗi lầm, dễ nghe, đáng yêu, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người ưa thích, được nhiều người hài lòng — người ấy nói những lời như vậy. Người ấy từ bỏ nói lời phù phiếm, tránh xa nói lời phù phiếm: nói đúng lúc, nói điều thật, nói điều có ích, nói đúng Pháp, nói đúng Luật; lời nói có giá trị, đúng lúc, có căn cứ, có giới hạn, liên hệ đến lợi ích.
Người ấy không tham đắm: tài sản, đồ dùng của người khác, người ấy không tham muốn: “Ôi, mong sao của người kia trở thành của mình!” — người ấy không nghĩ như vậy. Người ấy có tâm không sân hận, ý nghĩ không hư hỏng: “Mong sao những chúng sinh này không thù oán, không xung đột, không khổ đau, tự gìn giữ mình được an lạc!” Người ấy có chánh kiến, cái thấy không đảo ngược: “Có ý nghĩa trong bố thí, trong cúng tế, trong lễ vật; có quả, có kết quả của các nghiệp thiện và ác đã làm; có đời này, có đời sau; có mẹ, có cha, có các chúng sinh hóa sinh; có trong đời các Sa-môn, Bà-la-môn đi đúng đường, thực hành đúng đắn, tự mình thắng tri, chứng ngộ đời này và đời sau rồi tuyên bố.”
Này các Tỷ-kheo, người thành tựu mười pháp này, như bị mang đi và đặt xuống như vậy trên thiên giới.” Bài thứ 1.