Sumedhā
Sumedhā, con gái vua Koñca ở Mantāvatī, đã được hứa gả cho vua Anīkaratta (bản MC ghi Aṇīkadatta) nhưng quyết chí xuất gia. Cô thuyết phục cha mẹ bằng bài kệ dài: các dục rỗng không và cay đắng, thân thể là túi da chứa đầy chất dơ sẽ bị quăng ra bãi tha ma, luân hồi dài vô tận với nước mắt, sữa, máu đổ ra nhiều hơn bốn biển. Cô tuyệt thực, cắt tóc bằng dao, nhập sơ thiền ngay trong lâu đài; cuối cùng chính chú rể cũng chắp tay xin cha mẹ cho cô đi tu. Còn là ni tu tập sự, cô đã chứng sáu thắng trí và quả vị cao cả. Trước lúc lâm chung, cô tuyên bố túc mạng: từ thời Phật Koṇāgamana, ba người bạn gái dâng cúng trú xá cho hội chúng — nhân lành ấy đưa cô qua vô số kiếp trời người, làm đến hoàng hậu trong bảy báu, và chín muồi thành Niết-bàn ở kiếp này.
Điểm thực hànhKhi giằng co giữa hưởng thụ và ra đi, hãy nhớ hình ảnh Sumedhā dùng: nước mắt, sữa và máu đã đổ trong luân hồi nhiều hơn nước bốn biển — hưởng thêm một đời nữa chẳng thêm được gì.
Therīgāthā 16.1 Nhóm Lớn Sumedhā
Sumedhā, người con gái của hoàng hậu chánh cung của đức vua Koñca,
đã có được đức tin
nhờ vào những vị đang thực hành Giáo Pháp.
Là người có giới hạnh, nói năng khôn khéo,
có sự nghe nhiều, đã được dạy dỗ về lời dạy của đức Phật,
Sumedhā đã đi đến gặp mẹ cha
rồi nói với cả hai người rằng: ‘Xin mẹ cha hãy lắng nghe.
Con thích thú Niết Bàn.
Việc đi đến các hữu là không trường tồn, dầu là thuộc về cõi Trời đi nữa;
vậy thì có gì với các dục rỗng không,
ít khoái lạc, nhiều tai họa?
Các dục là cay đắng,
ví như nọc độc của rắn, khiến những kẻ ngu bị mê mẩn.
Chúng bị đọa vào địa ngục thời gian dài,
bị hành hạ, khổ đau.
Có việc làm ác, có trí xấu xa,
thường xuyên không thu thúc về thân, về khẩu,
và về ý,
(những kẻ ngu) sầu khổ ở đọa xứ.
Những kẻ ngu ấy có ác tuệ, không có ý tứ,
bị giam hãm bởi (tham ái) nguyên nhân của Khổ;
trong khi (có người) đang thuyết giảng, chúng không hiểu,
không giác ngộ các Chân Lý cao thượng.
Thưa mẹ, những kẻ thích thú việc đi đến các hữu,
mong mỏi việc sanh về các cõi Trời,
những kẻ ấy là nhiều hơn,
chúng không biết các Chân Lý đã được thuyết giảng bởi đức Phật cao quý.
Khi việc đi đến các hữu là vô thường, việc sanh về thậm chí ở các cõi Trời
cũng là không trường tồn;
những kẻ ngu không sợ hãi
đối với việc bị sanh lần này lần khác.
Bốn đọa xứ
và hai cảnh giới tái sanh (người và Trời) được đạt đến bằng cách này hay cách khác;
còn đối với những kẻ đã đi đến đọa xứ
thì không có việc xuất gia ở các địa ngục.
Cả hai (mẹ và cha) hãy cho phép con
xuất gia theo lời giáo huấn của đấng Thập Lực.
Ít bị bận rộn, con sẽ cố gắng
cho việc dứt bỏ sự sanh và sự chết.
Có gì với việc đi đến các hữu, với việc được vui thú,
với tội lỗi của thân xác không có thực chất?
Vì sự diệt tận đối với tham ái ở các hữu,
xin mẹ cha hãy cho phép, con sẽ xuất gia.
Sự hiện khởi của chư Phật, lúc không phải thời cơ đã được tránh khỏi,
thời cơ đã đạt được,
con sẽ không làm hư hỏng các giới và Phạm hạnh
cho đến trọn đời.
Khi nào còn là người tại gia thì con sẽ không động đến thức ăn,
con dứt khoát sẽ đi đến cái chết.’
Sumedhā nói với mẹ cha
như vậy.
Bị khổ đau, mẹ khóc, và người cha của cô gái
đã bị tác động toàn diện,
(hai người) cố gắng thuyết phục đứa con
đã nằm dài xuống nền nhà ở sân thượng của tòa lâu đài.
‘Này con, hãy đứng dậy. Việc gì phải bị sầu muộn?
Con đã được gả về thành phố Vāraṇavatī.
Đức vua Aṇīkadatta
đẹp trai. Con đã được gả cho ông ta.
Con sẽ là hoàng hậu chánh cung,
là vợ của đức vua Aṇīkadatta.
Này con, các giới cấm, sự thực hành Phạm hạnh,
sự xuất gia là các việc khó làm.
Ở vương quốc, có uy lực, tài sản, vương quyền,
của cải, sung sướng. Con còn trẻ,
con hãy thọ hưởng sự hưởng thụ các dục.
Này con, hãy để cho cuộc hôn lễ của con được tiến hành.’
Khi ấy, Sumedhā nói với mẹ cha rằng:
‘Đừng có những việc như thế. Việc đi đến các hữu là không có thực chất.
Đối với con, hoặc là sẽ có sự xuất gia,
hoặc là cái chết, và dứt khoát không có đám cưới.
Giống như loài dòi, con bám víu vào cái thân hôi thối, không trong sạch,
có mùi mồ hôi, cái thây ma đáng kinh sợ,
cái túi da
có sự rò rỉ thường xuyên, chứa đầy các chất dơ.
Nó tựa như cái gì? Trong khi con biết rằng xác thân là ghê tởm,
bị lấm lem những thịt và máu,
chỗ trú của nhiều loại dòi, bữa ăn của những con chim,
tại sao thân xác lại được đem cho?
Không bao lâu, khi tâm thức đã lìa, thân xác
được đem ra bãi tha ma.
Các thân quyến, trong khi ghê tởm, quăng bỏ nó
giống như khúc gỗ mục.
Sau khi đã quăng bỏ thân xác ấy ở bãi tha ma
làm bữa ăn cho những loài thú khác,
mẹ và cha ruột, trong khi ghê tởm, tắm rửa;
còn nhóm người công chúng thì sao?
Họ bị dính mắc ở cái thân xác, không có thực chất,
sự tập hợp các xương và những sợi gân,
cái thân hôi thối, chứa đầy nước miếng, nước mắt, phân,
và nước tiểu.
Người nào, sau khi mổ xẻ thân ấy,
có thể làm cho cái phần bên trong ra bên ngoài,
ngay cả người mẹ ruột, trong khi không chịu nổi mùi của nó,
cũng sẽ ghê tởm.
Trong khi suy xét đúng đường lối về (năm) uẩn, (mười tám) giới, (mười hai) xứ
là pháp tạo tác, là nền tảng của sự sanh, là khổ đau,
tại sao con còn mong muốn
đám cưới?
Mỗi một ngày
ba trăm cây giáo mới tinh rơi xuống ở thân thể,
và dẫu cho sự hành hạ trong một trăm năm
cũng vẫn là tốt hơn, nếu như vậy mà có được sự cạn kiệt của khổ đau.
Người nào có thể chấp nhận sự hành hạ
sau khi nhận thức lời nói như vầy của bậc Đạo Sư:
‘Trong khi những người ấy đang bị giết chết lần này lần khác,
luân hồi là dài đối với họ.’
Các sự hành hạ vô số kể được nhìn thấy ở chư Thiên,
ở nhân loại, ở chủng loại các loài thú, ở tập thể của A-tu-la,
ở các loài ngạ quỷ,
và ở các địa ngục.
Có nhiều sự hành hạ ở các địa ngục
dành cho người đã đi đến đọa xứ, dành cho người đang bị áp chế,
thậm chí không có sự ẩn náu ở giữa chư Thiên,
không có gì vượt trội sự an lạc của Niết Bàn.
Những người nào gắn bó với lời giáo huấn của đấng Thập Lực,
ít bị bận rộn, cố gắng
cho việc dứt bỏ sự sanh và sự chết,
những người ấy đạt được Niết Bàn.
Thưa cha, ngay hôm nay con sẽ xuất ly.
Việc gì với các của cải không có thực chất?
Các dục đã bị con nhàm chán;
chúng được xem là vật đã được mửa ra, đã được làm thành thân cây thốt nốt (bị cụt ngọn).’
Nàng ấy đã nói như thế với cha.
Và Aṇīkadatta, người mà nàng ấy được gả cho,
đã đi đến theo nghi thức của việc cưới hỏi,
vào thời điểm đã được xác định là lễ cưới.
Khi ấy, Sumedhā, sau khi cắt đứt đầu tóc đen nhánh, dầy, rậm, mềm mại
bằng con dao,
sau đó đã đóng lại (cánh cửa) tòa lâu đài,
rồi đã thể nhập tầng thiền thứ nhất.
Và nàng đã thể nhập thiền ấy.
Rồi Aṇīkadatta đã đi đến thành phố.
Ngay tại tòa lâu đài, Sumedhā
(đã) khéo tu tập tưởng về vô thường.
(Trong lúc) Sumedhā bận chú tâm,
Aṇīkadatta đã vội vã bước lên,
với thân hình được trang điểm với ngọc ma-ni và vàng,
với tay chắp lại, thỉnh cầu Sumedhā rằng:
‘Ở vương quốc, có uy lực, tài sản, vương quyền,
của cải, sung sướng. Nàng còn trẻ,
nàng hãy thọ hưởng sự hưởng thụ các dục.
Sự khoái lạc của các dục ở thế gian là rất khó đạt được.
Vương quốc đã được trao cho nàng.
Nàng hãy thọ hưởng các của cải, hãy bố thí các vật thí.
Nàng chớ có ủ dột,
(khiến) mẹ cha của nàng khổ đau.’
Sumedhā, không có mục đích với các dục,
có sự si mê đã xa lìa, nói điều này với Aṇīkadatta:
‘Chớ thích thú ở các dục.
Chàng hãy nhìn thấy điều bất lợi ở các dục.
Đức vua Mandhātā của bốn châu lục
đã đứng đầu trong số những người thọ hưởng dục lạc,
(nhưng vẫn) không được thỏa mãn, đã chết đi,
và các điều mong muốn của vị ấy đã không được đầy đủ.
Thần mưa có thể làm cơn mưa bảy loại châu báu
ở xung quanh khắp cả mười phương,
nhưng không có sự thỏa mãn của các dục.
Loài người chết đi, thật sự không được thỏa mãn.
Các dục ví như dao và thớt;
các dục ví như đầu rắn độc;
chúng thiêu đốt ví như các cây đuốc cỏ;
chúng tương tự như bộ xương.
Các dục là không thường còn, không bền vững,
nhiều khổ đau, là những chất độc lớn lao,
tựa như cục sắt đã được nung nóng,
là gốc rễ của tội lỗi, có kết quả khổ đau.
Các dục ví như trái trên cây;
ví như miếng thịt, khổ đau;
ví như giấc chiêm bao, lừa bịp;
các dục ví như vật vay mượn.
Các dục ví như gươm giáo,
là bệnh tật, mụt nhọt, tội lỗi, khốn khổ,
tương tự hố than cháy rực,
là gốc rễ của tội lỗi, sợ hãi, giết chóc.
Các dục có nhiều khổ đau như vậy,
đã được nói đến là các chướng ngại.
Quý vị hãy đi đi,
bản thân tôi không có sự tin tưởng ở việc đi đến các hữu.
Người khác sẽ làm gì cho tôi
khi cái đầu của bản thân tôi đang bị thiêu đốt?
Khi sự sống và chết đuổi theo sau,
thì nên cố gắng cho việc diệt trừ đối với điều ấy.’
Sau khi mở ra cánh cửa,
nhìn thấy mẹ cha và Aṇīkadatta
ngồi ở nền nhà
đang khóc than, tôi đã nói điều này:
‘Luân hồi là dài lâu cho những kẻ ngu
và những kẻ đang khóc lóc lần này lần khác
về việc không có khởi đầu và chấm dứt, về cái chết của cha,
về sự chết chóc của anh em trai, và về sự chết chóc của bản thân.
Hãy nhớ rằng nước mắt, sữa, máu,
sự luân hồi không có khởi đầu và chấm dứt.
Hãy nhớ rằng sự chồng chất của những khúc xương
của các chúng sanh đang luân hồi.
Hãy nhớ rằng nước mắt, sữa, máu
đã được so sánh với bốn biển.
Hãy nhớ rằng sự chồng chất của những khúc xương trong một đại kiếp
là sánh bằng núi Vipula.
Quả địa cầu, xứ Jambudīpa,
được so sánh với kẻ đang luân hồi (ở sự luân hồi) không có khởi đầu và chấm dứt;
(trái đất được làm thành) những viên bi nhỏ như hạt táo
vẫn không sánh bằng những lần đã lần lượt làm mẹ.
Hãy nhớ rằng cỏ, củi, cành, lá
được so sánh với sự (luân hồi) không có khởi đầu và chấm dứt.
(Cắt cỏ, củi, cành, lá thành) những mẩu bốn ngón tay
vẫn không sánh bằng những lần đã lần lượt làm cha.
Hãy nhớ rằng con rùa mù
và lỗ hổng ở cái ách (trôi dạt) ở biển đông sang phía tây.
Và hãy nhớ rằng sự gặp gỡ của nó
là ví dụ về việc đạt được bản thể nhân loại.
Hãy nhớ rằng hình thể của xác thân tồi tệ, không có thực chất,
ví như cục bong bóng nước.
Hãy nhìn thấy các uẩn là vô thường.
Hãy nhớ rằng các địa ngục là có nhiều tai họa.
Hãy nhớ về những kiếp sống kia kiếp sống nọ
đang làm phát triển bãi tha ma lúc này lúc khác.
Hãy nhớ đến những nỗi sợ hãi về cá sấu (sự tham ăn).
Hãy nhớ về bốn Chân Lý.
Trong khi Bất Tử đang được biết đến,
chàng được cái gì với việc uống vào năm vật cay đắng?
Bởi vì mọi sự thích thú ở các dục
còn đắng cay hơn năm vật cay đắng nữa.
Trong khi sự Bất Tử đang được biết đến,
chàng được cái gì với các dục, là những thứ có sự nóng nực?
Bởi vì mọi sự thích thú ở các dục
là bị cháy rực, bị sôi sục, bị rung chuyển, bị thiêu đốt.
Trong khi là không có kẻ thù,
chàng được cái gì với các dục, là những thứ có nhiều kẻ thù?
Các dục là có nhiều kẻ thù,
ví dụ như các vị vua, ngọn lửa, trộm cướp, nước (lũ), người không yêu thương, v.v…
Trong khi sự Giải Thoát đang được biết đến,
chàng được cái gì với các dục, ở những thứ ấy có sự giết hại và trói buộc.
Bởi vì do dục không tốt đẹp trong số các dục,
chúng sanh chịu đựng những khổ đau do sự giết hại và trói buộc.
Những cây đuốc cỏ, đã được thắp sáng,
đốt nóng những người đang nắm lấy và không bao giờ chịu buông ra.
Các dục, quả giống như cây đuốc,
đốt nóng những người không chịu buông ra.
Chớ từ bỏ sự an lạc lớn lao
vì nguyên nhân khoái lạc ít ỏi của các dục.
Chớ như con cá Puthuloma
đã nuốt vào lưỡi câu về sau bị khốn khổ.
Chỉ còn cách hãy hết lòng kiềm chế đối với các dục,
tựa như con chó bị trói buộc vào sợi xích.
Quả vậy, các dục sẽ đối xử với ngươi,
tựa như hạng người hạ liệt bị đói sẽ đối xử với con chó.
Bị vướng vào ở các dục, chàng sẽ chịu đựng
nhiều khổ đau vô hạn lượng và buồn bực ở tâm trí.
Hãy buông bỏ
các dục không được bền lâu.
Trong khi sự không già đang được biết đến,
chàng được cái gì với các dục, ở những thứ ấy có sự già.
Ở khắp mọi nơi, tất cả các sự sanh ra
đều bị nắm giữ bởi sự chết và bệnh tật.
Cái này là không già, cái này là không chết,
cái này là vị thế không già không chết, không sầu muộn,
không kẻ thù, không chướng ngại,
không lầm lỗi, không sợ hãi, khỏi bị nóng nảy.
Sự Bất Tử này đã được chứng đắc bởi nhiều người.
Ngay cả hôm nay, cái này vẫn còn được chứng ngộ
(đối với) người nào áp dụng đúng đường lối,
và không thể được với người không cố gắng.’
Trong khi không đạt được sự thích thú ở việc đi đến các sự tạo tác, Sumedhā nói như vậy.
Trong khi thuyết phục Aṇīkadatta,
Sumedhā đã ném nắm tóc
xuống nền nhà.
Sau khi đứng lên, Aṇīkadatta ấy
đã chắp tay thỉnh cầu mẹ cha của nàng rằng:
‘Quý vị hãy cho phép Sumedhā được xuất gia;
nàng sẽ có sự nhìn thấy Giải Thoát và Chân Lý.’
Được mẹ cha cho phép,
bị sợ hãi vì sự sầu muộn và lo sợ (luân hồi), nàng đã xuất gia.
Trong khi còn là vị ni tu tập sự, sáu Thắng Trí
và quả vị cao cả đã được (nàng) chứng ngộ.
Niết Bàn kỳ diệu, phi thường ấy
đã thuộc về người con gái của đức vua,
như đã được nàng nói rõ về việc làm trong đời sống thuộc thời quá khứ
ở vào thời điểm cuối cùng.
Vào thời đức Thế Tôn Koṇāgamana,
chúng tôi gồm ba người bạn gái
đã dâng cúng trú xá
ở tại chỗ cư ngụ mới là tu viện của hội chúng.
Chúng tôi đã tái sanh mười lần, trăm lần,
ngàn lần, mười ngàn lần
ở các cõi trời,
thì ở cõi người có điều gì để nói.
Chúng tôi đã có đại thần lực ở cõi trời,
thì ở cõi người có điều gì để nói.
Tôi đã là hoàng hậu,
là báu vật nữ nhân trong số bảy loại báu vật.
Nhân ấy, nguồn sanh khởi ấy,
căn nguyên ấy, sự chăm chỉ ấy trong Giáo Pháp,
sự liên kết đầu tiên ấy,
việc Niết Bàn ấy là do sự thỏa thích trong Giáo Pháp.
Những người nào tin tưởng vào lời nói của bậc Trí Tuệ Cao Thượng
thì thực hành như vậy,
họ nhàm chán việc đi đến các hữu,
sau khi nhàm chán họ lìa khỏi ái luyến.”
Trưởng lão ni Sumedhā đã nói những lời kệ như thế.
Nghĩa là
Ở thành Mantāvatī, Sumedhā, con gái hoàng hậu chánh cung của vua Koñca, là con gái Sumedhā, đã có được đức tin nhờ những vị thực hành Giáo pháp. Có giới hạnh, nói năng khôn khéo, học rộng, được dạy dỗ trong lời dạy của Đức Phật, Sumedhā đến gặp cha mẹ nói với cả hai: 'Xin cha mẹ hãy lắng nghe. Con thỏa thích Niết-bàn. Mọi cõi sinh đều không trường tồn, dù là cõi trời; huống chi các dục rỗng không, ít khoái lạc, nhiều tai họa? Các dục cay đắng, như nọc rắn, khiến kẻ ngu mê mẩn. Chúng đọa địa ngục lâu dài, bị hành hạ, khổ đau. Kẻ làm ác sầu khổ, ở đọa xứ, luôn tăng trưởng điều ác; không thu thúc thân và khẩu, và về ý — những kẻ ngu. Những kẻ ngu ấy ác tuệ, vô tâm, bị giam hãm bởi tham ái — nguồn của Khổ; khi có người thuyết giảng, chúng không hiểu, không giác ngộ các Chân lý cao thượng. Thưa mẹ, các Chân lý Đức Phật cao quý đã thuyết — những kẻ không biết ấy là số nhiều hơn, thích thú các cõi sinh, mong mỏi sinh về cõi trời. Các cõi sinh là vô thường, sinh về cõi trời cũng không trường tồn; kẻ ngu không sợ hãi việc bị sinh lần này lần khác. Bốn đọa xứ và hai cảnh giới (người, trời) đạt được cách này hay cách khác; còn kẻ đã sa đọa xứ thì trong địa ngục không có xuất gia. Xin cả hai cha mẹ cho phép con xuất gia theo giáo huấn của Đấng Thập Lực. Ít bận rộn, con sẽ cố gắng để dứt bỏ sinh và chết. Vui thú các cõi sinh để làm gì, với thân xác không thực chất này? Để diệt tận tham ái đối với các cõi, xin cha mẹ cho phép, con sẽ xuất gia. Chư Phật đã hiện khởi, thời cơ xấu đã tránh khỏi, thời cơ đã đạt được, con sẽ không hư hỏng giới và Phạm hạnh cho đến trọn đời.' Sumedhā nói với cha mẹ như vậy: 'Thưa cha mẹ, con chưa dùng thức ăn, chừng nào còn tại gia, con dứt khoát đi đến cái chết.' Khổ đau, mẹ khóc, và người cha bị tác động toàn diện, cố gắng thuyết phục đứa con đã nằm dài xuống nền nhà trên sân thượng lâu đài. (Cha mẹ nói:) 'Này con, hãy đứng dậy. Việc gì phải sầu muộn? Con đã được gả về thành Vāraṇavatī. Đức vua Anīkaratta đẹp trai. Con đã được gả cho ông ta. Con sẽ là hoàng hậu chánh cung, vợ của vua Anīkaratta. Này con, giới cấm, thực hành Phạm hạnh, xuất gia — là việc khó làm. Ở vương quốc có uy lực, tài sản, vương quyền, của cải, sung sướng. Con còn trẻ, hãy thọ hưởng các dục. Này con, hãy để hôn lễ được tiến hành.' Khi ấy, Sumedhā nói với cha mẹ: 'Đừng như thế. Các cõi sinh không có thực chất. Với con, hoặc là xuất gia, hoặc là chết, dứt khoát không đám cưới. Sao con bám víu vào cái thân hôi thối, không sạch này, mùi hôi, cái thây đáng kinh sợ, cái túi da rò rỉ thường xuyên, đầy chất dơ. Biết xác thân là ghê tởm như thế, để làm gì? lấm lem thịt và máu, chỗ trú của dòi, bữa ăn của chim, sao thân xác lại được đem cho? được đem ra bãi tha ma, Không bao lâu, khi thức đã lìa, thân xác bị quăng bỏ như khúc gỗ mục, bởi những thân quyến ghê tởm. Quăng bỏ thân xác ấy ở bãi tha ma làm bữa ăn cho loài thú khác, cha mẹ ruột, ghê tởm, còn phải tắm rửa; huống chi người ngoài thì sao? Họ dính mắc ở cái thân không thực chất, tập hợp xương và gân, cái thân hôi thối đầy nước miếng, nước mắt, phân, đầy tràn trong cái thân hôi thối. Ai mổ xẻ thân ấy ra, lộn phần trong ra ngoài, ngay cả mẹ ruột, không chịu nổi mùi của nó, cũng sẽ ghê tởm. Năm uẩn, mười tám giới, mười hai xứ là pháp tạo tác, nền tảng của sinh, là khổ, khi suy xét đúng đường lối, sao con còn mong muốn đám cưới? Mỗi ngày ba trăm cây giáo mới rơi xuống thân thể, dẫu hành hạ trong một trăm năm cũng vẫn tốt hơn, nếu được cạn kiệt khổ đau. Người nào chấp nhận được sự hành hạ sau khi hiểu lời bậc Đạo sư như vầy: 'Luân hồi là dài đối với họ, khi bị giết chết lần này lần khác.' Ở chư Thiên và nhân loại, loài thú, tập thể A-tu-la, ở ngạ quỷ và địa ngục, hành hạ vô số được thấy. Nhiều hành hạ ở địa ngục cho người sa đọa xứ, đang bị áp chế, ngay giữa chư Thiên cũng không có chỗ ẩn náu, không gì vượt trội an lạc của Niết-bàn. đạt Niết-bàn — những ai gắn bó với giáo huấn của Đấng Thập Lực; ít bận rộn, cố gắng để dứt bỏ sinh và chết. Thưa cha, ngay hôm nay con sẽ xuất ly. Của cải không thực chất để làm gì? Các dục con đã nhàm chán; chúng như vật đã mửa ra, như thân thốt nốt cụt ngọn.' Nàng nói như thế với cha. Và Anīkaratta, người nàng được gả cho, đã đi đến Vāraṇavatī, vào thời điểm đã định là lễ cưới. Khi ấy, Sumedhā cắt đứt mái tóc đen nhánh, dày, rậm, mềm mại bằng con dao, đóng lại cửa tòa lâu đài, rồi thể nhập tầng thiền thứ nhất. Nàng thể nhập thiền ấy. Rồi Anīkaratta đến thành phố. Ngay tại lâu đài, Sumedhā khéo tu tập tưởng vô thường. Trong lúc Sumedhā chú tâm, Anīkaratta vội vã bước lên, thân hình trang điểm ngọc ma-ni và vàng, tay chắp lại, thỉnh cầu Sumedhā: (Anīkaratta nói:) 'Ở vương quốc có uy lực, tài sản, vương quyền, của cải, sung sướng. Nàng còn trẻ, hãy thọ hưởng các dục. Khoái lạc của các dục ở thế gian rất khó đạt được. Vương quốc đã trao cho nàng. Hãy thọ hưởng của cải, hãy bố thí. Nàng đừng ủ dột, khiến cha mẹ nàng khổ đau.' Sumedhā, không còn ham các dục, si mê đã xa lìa, nói với Anīkaratta: 'Đừng thích thú các dục. Hãy thấy điều bất lợi ở các dục. Vua Mandhātā của bốn châu lục đứng đầu những người thọ hưởng dục lạc, vẫn không thỏa mãn, đã chết, và mong muốn của vị ấy không được đầy đủ. Dẫu trời mưa bảy loại châu báu khắp cả mười phương, cũng không có thỏa mãn của các dục. Người chết đi vẫn không thỏa mãn. Các dục như dao và thớt; như đầu rắn độc; thiêu đốt như đuốc cỏ; như bộ xương. Các dục vô thường, không bền, nhiều khổ đau, là chất độc lớn, như cục sắt nung nóng, gốc rễ của tội, quả là khổ đau. Các dục như trái trên cây; như miếng thịt, khổ đau; như giấc chiêm bao, lừa bịp; như vật vay mượn. Các dục như gươm giáo, là bệnh tật, mụt nhọt, tội, khốn khổ, như hố than cháy rực, gốc rễ của tội, sợ hãi, giết chóc. Các dục nhiều khổ đau như vậy, được nói là các chướng ngại. Quý vị hãy đi đi, bản thân tôi không tin ở các cõi sinh. Người khác làm gì được cho tôi khi đầu của chính tôi đang bị thiêu đốt? Khi già và chết đuổi theo sau, thì nên cố gắng diệt trừ điều ấy.' Mở cánh cửa ra, thấy cha mẹ và Anīkaratta ngồi ở nền nhà đang khóc than, tôi nói điều này: 'Luân hồi dài lâu cho kẻ ngu và kẻ khóc lóc lần này lần khác về vòng không đầu không cuối, về cái chết của cha, về cái chết của anh em, và của bản thân. Hãy nhớ nước mắt, sữa, máu, luân hồi không đầu không cuối. của chúng sinh đang luân hồi. Hãy nhớ sự chồng chất của xương Hãy nhớ bốn biển, đã được so sánh với nước mắt, sữa, máu. Hãy nhớ xương chồng chất trong một đại kiếp sánh bằng núi Vipula. Sự luân hồi không có khởi đầu, được ví với cả mặt đất, xứ Jambudīpa, chia thành viên bi nhỏ như hạt táo vẫn không bằng số lần đã lần lượt làm mẹ. Hãy nhớ cỏ, củi, cành, lá được so với luân hồi không đầu không cuối. cắt thành những mẩu bốn ngón tay vẫn không bằng số lần đã lần lượt làm cha. Hãy nhớ con rùa mù và lỗ hổng ở cái ách trôi trên biển, từ đông sang tây. Và sự gặp gỡ của nó là ví dụ về việc được sinh làm người. Hãy nhớ hình thể của xác thân tồi tệ, không thực chất, như cục bong bóng nước. Hãy thấy các uẩn là vô thường. Hãy nhớ địa ngục nhiều tai họa. Hãy nhớ những kẻ làm lớn bãi tha ma, trong kiếp này kiếp nọ, lặp lại mãi. Hãy nhớ nỗi sợ về cá sấu (sự tham ăn). Hãy nhớ bốn Chân lý. Khi Bất Tử đang hiện hữu, chàng được gì với việc uống năm vật cay đắng? Vì mọi thích thú ở các dục còn cay đắng hơn năm vật ấy nữa. Khi Bất Tử đang hiện hữu, chàng được gì với các dục nóng nực? Vì mọi thích thú ở các dục đều cháy rực, sôi sục, rung chuyển, thiêu đốt. Khi đang không có kẻ thù, chàng được gì với các dục nhiều kẻ thù? như các vị vua, lửa, trộm cướp, nước lũ, người không yêu thương, các dục là của chung, có nhiều kẻ thù. Khi Giải Thoát đang hiện hữu, chàng được gì với các dục, nơi ấy có giết hại và trói buộc. Vì trong các dục, dù không muốn, chúng sinh vẫn chịu khổ do giết hại và trói buộc. Đuốc cỏ đã thắp sáng, đốt người nắm lấy mà không chịu buông. Các dục quả như cây đuốc, đốt những người không buông. Đừng bỏ an lạc lớn lao vì khoái lạc ít ỏi của các dục. Đừng như con cá Puthuloma nuốt lưỡi câu rồi về sau khốn khổ. Hãy hết lòng kiềm chế đối với các dục, như con chó bị buộc vào xích. Quả vậy, các dục sẽ xử với ngươi như hạng người hạ liệt đói khát xử với con chó. Khổ đau vô hạn, và nhiều buồn bực trong tâm; vướng vào các dục, chàng sẽ chịu Hãy buông bỏ các dục không bền lâu. Khi sự không già đang hiện hữu, chàng được gì với các dục, nơi ấy có sự già. bị chết và bệnh nắm giữ, mọi sự sinh ra ở khắp mọi nơi. Đây là không già, đây là không chết, đây là trạng thái không già không chết, không sầu muộn, không kẻ thù, không chướng ngại, không lầm lỗi, không sợ hãi, không nóng nảy. Bất Tử này nhiều người đã chứng đắc. Ngay cả hôm nay, vẫn còn chứng ngộ được với người áp dụng đúng đường lối, và không thể với người không cố gắng.' Sumedhā nói như vậy, không đạt được sự thích thú ở các pháp tạo tác; trong khi thuyết phục Anīkaratta, Sumedhā đã ném nắm tóc xuống nền nhà. Đứng lên, Anīkaratta chắp tay thỉnh cầu cha nàng rằng: 'Xin hãy để Sumedhā được xuất gia; nàng sẽ thấy Giải Thoát và Chân Lý.' Được cha mẹ cho phép, sợ hãi vì sầu muộn và lo sợ luân hồi, nàng xuất gia. Còn là ni tu tập sự, sáu Thắng Trí và quả vị cao cả đã được nàng chứng ngộ. Niết-bàn kỳ diệu, phi thường ấy đã thuộc về người con gái của đức vua, như nàng đã nói rõ về đời sống quá khứ ở vào thời điểm cuối cùng. (Nàng tuyên bố:) 'Vào thời Đức Thế Tôn Koṇāgamana, ở trú xứ mới là tu viện của hội chúng, chúng tôi ba người bạn gái đã dâng cúng trú xá. Chúng tôi tái sinh mười lần, trăm lần, ngàn lần, mười ngàn lần ở các cõi trời, thì cõi người còn nói gì nữa. Chúng tôi có đại thần lực ở cõi trời, thì cõi người còn nói gì nữa. Tôi đã là hoàng hậu, là báu vật nữ nhân trong bảy báu. Nhân ấy, nguồn sinh khởi ấy, căn nguyên ấy, sự kham nhẫn ấy trong Giáo pháp, mối liên kết đầu tiên ấy, Niết-bàn ấy là do thỏa thích trong Giáo pháp. Những ai có lòng tin thì thực hành như vậy, tin vào lời của bậc Trí Tuệ Cao Thượng; họ nhàm chán các cõi sinh, nhàm chán rồi lìa khỏi ái luyến.' Trưởng lão ni Sumedhā đã nói những lời kệ như thế.
Nhóm Lớn (hết).
Kệ Trưởng Lão Ni đã trọn đủ.
là năm trăm hai mươi mốt.
Các trưởng lão ni là một trăm lẻ một,
tất cả các vị ni ấy có sự cạn kiệt của các lậu hoặc.”
Trưởng Lão Ni Kệ được đầy đủ.
Nghĩa là
(Tổng kết:) 'Bốn trăm câu kệ, tám mươi, và thêm mười bốn — tổng cộng bốn trăm chín mươi bốn câu. Các trưởng lão ni là một trăm lẻ một vị, tất cả đều đã cạn kiệt lậu hoặc.' Trưởng Lão Ni Kệ được đầy đủ.