Kinh Sela
Câu chuyện Bà-la-môn Sela — bậc thầy tinh thông Vệ-đà, thầy của ba trăm thanh niên — tìm đến Đức Phật sau khi nghe người bện tóc Keṇiya nhắc đi nhắc lại hai tiếng 'đức Phật'. Ông tự mình kiểm chứng ba mươi hai tướng của bậc đại nhân trên thân Đức Phật, tán thán Ngài bằng kệ, hỏi ai sẽ thừa tự chuyển tiếp bánh xe Pháp, rồi cùng cả ba trăm học trò xin xuất gia và chứng quả A-la-hán sau bảy đêm. Phần văn xuôi được diễn đạt lại bằng lời kể hiện đại; các bài kệ được giữ nguyên văn bản gốc, đi kèm mỗi câu kệ là phần "Nghĩa là" bằng tiếng Việt thường.
Điểm thực hànhNhư Sela: đừng tin chỉ vì nghe đồn — hãy tự mình đến nơi, kiểm chứng cho tỏ tường, rồi khi đã rõ thì quyết định dứt khoát và đi trọn con đường mình đã chọn.
Sutta Nipāta 3.7 Kinh Sela Tôi nghe kể lại như vầy: Một lần, Đức Phật đang du hành ở xứ Aṅguttarāpa cùng với một Tăng đoàn đông gồm 1.250 vị Tỷ-kheo (vị tu sĩ khất thực), và đi đến một thị trấn của xứ Aṅguttarāpa tên là Āpaṇa. Người bện tóc Keṇiya nghe tin: “Sa-môn Gotama là người con dòng họ Thích-ca, đã xuất gia từ dòng họ Thích-ca, đang du hành ở xứ Aṅguttarāpa cùng với một Tăng đoàn đông gồm 1.250 vị Tỷ-kheo, và đã đến Āpaṇa. Tiếng lành về Tôn giả Gotama ấy đã lan xa như vầy: “Ngài là Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện Thệ, người hiểu rõ thế gian, bậc điều phục vô thượng, thầy của trời và người, Phật, Thế Tôn.”
Ngài tự mình chứng ngộ bằng thắng trí, thấu rõ thế giới này — cùng với cõi trời, cõi Ma vương, cõi Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, trời và người — rồi tuyên thuyết điều đã chứng ngộ. Ngài giảng Pháp hay ở đoạn đầu, hay ở đoạn giữa, hay ở đoạn cuối, đầy đủ cả nghĩa lẫn văn; Ngài truyền dạy đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Thật tốt đẹp thay khi được chiêm ngưỡng một bậc A-la-hán như vậy!” Rồi người bện tóc Keṇiya đi đến chỗ Đức Phật; đến nơi, ông nói những lời chào đón, thăm hỏi với Đức Phật. Sau khi nói những lời chào đón, thăm hỏi thân tình, ông ngồi xuống một bên. Đức Phật dùng bài giảng Pháp chỉ bày, khích lệ, làm cho người bện tóc Keṇiya đang ngồi một bên thêm phấn khởi và hoan hỷ.
Người bện tóc Keṇiya, sau khi được Đức Phật dùng bài giảng Pháp chỉ bày, khích lệ, làm cho phấn khởi và hoan hỷ, liền bạch Đức Phật: “Mong Tôn giả Gotama nhận lời mời của con: ngày mai dùng bữa cùng với Tăng đoàn.” Nghe nói vậy, Đức Phật nói với người bện tóc Keṇiya: “Này Keṇiya, Tăng đoàn rất đông — đến 1.250 vị Tỷ-kheo — và ông lại có lòng tin kính các Bà-la-môn.” Lần thứ hai, người bện tóc Keṇiya lại bạch Đức Phật: “Thưa Tôn giả Gotama, dù Tăng đoàn rất đông — đến 1.250 vị Tỷ-kheo — và dù con có lòng tin kính các Bà-la-môn, mong Tôn giả Gotama nhận lời mời của con: ngày mai dùng bữa cùng với Tăng đoàn!” Lần thứ hai, Đức Phật lại nói với người bện tóc Keṇiya:
“Này Keṇiya, Tăng đoàn rất đông — đến 1.250 vị Tỷ-kheo — và ông lại có lòng tin kính các Bà-la-môn.” Lần thứ ba, người bện tóc Keṇiya lại bạch Đức Phật: “Thưa Tôn giả Gotama, dù Tăng đoàn rất đông — đến 1.250 vị Tỷ-kheo — và dù con có lòng tin kính các Bà-la-môn, mong Tôn giả Gotama nhận lời mời của con: ngày mai dùng bữa cùng với Tăng đoàn!” Đức Phật im lặng nhận lời. Người bện tóc Keṇiya, sau khi biết Đức Phật đã nhận lời, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, trở về tịnh xá của mình; về đến nơi, ông gọi bạn bè, thân quyến và họ hàng lại mà bảo: “Xin các vị bạn bè, thân quyến, họ hàng hãy nghe tôi. Sa-môn Gotama đã được tôi mời ngày mai đến dùng bữa cùng với Tăng đoàn.
Vậy xin các vị hãy tự tay giúp việc cho tôi.” “Thưa vâng.” Các bạn bè, thân quyến, họ hàng của người bện tóc Keṇiya vâng lời ông: có người đào lò nấu, có người chẻ củi, có người rửa chén bát, có người sắp đặt các ghè nước, có người sửa soạn ghế ngồi. Còn chính người bện tóc Keṇiya thì tự tay dựng lên một rạp tròn trang hoàng. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Sela đang trú tại Āpaṇa. Ông tinh thông ba tập Vệ-đà, cùng với các sách về từ vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các truyện cổ; ông thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu học thuyết Lokāyata và tướng pháp của bậc đại nhân. Ông dạy thần chú cho ba trăm thanh niên Bà-la-môn. Lúc bấy giờ, người bện tóc Keṇiya có lòng tin kính Bà-la-môn Sela.
Rồi Bà-la-môn Sela, với ba trăm thanh niên Bà-la-môn vây quanh, đang đi tản bộ du hành thì đến tịnh xá của người bện tóc Keṇiya. Bà-la-môn Sela thấy tại tịnh xá của người bện tóc Keṇiya: có người đào lò nấu, có người chẻ củi, có người rửa chén bát, có người sắp đặt các ghè nước, có người sửa soạn ghế ngồi; còn chính người bện tóc Keṇiya thì tự tay dựng lên một rạp tròn trang hoàng. Thấy vậy, Bà-la-môn Sela nói với người bện tóc Keṇiya: “Có phải ông sắp rước dâu hay gả cưới, hay một đại lễ tế đang được chuẩn bị, hay vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha được mời ngày mai đến cùng với cả đoàn quân?” “Thưa Tôn giả Sela, tôi không rước dâu, cũng không gả cưới, vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha cũng không được mời ngày mai đến cùng với đoàn quân; nhưng tôi đang chuẩn bị một đại lễ tế.
Có Sa-môn Gotama là người con dòng họ Thích-ca, đã xuất gia từ dòng họ Thích-ca, đang du hành ở xứ Aṅguttarāpa cùng với một Tăng đoàn đông gồm 1.250 vị Tỷ-kheo, và đã đến Āpaṇa. Tiếng lành về Tôn giả Gotama ấy cũng lan xa như vầy: “Ngài là Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện Thệ, người hiểu rõ thế gian, bậc điều phục vô thượng, thầy của trời và người, Ngài là Phật, là Thế Tôn.” Ngài đã được tôi mời ngày mai đến dùng bữa cùng với Tăng đoàn.” “Ông nói ‘Phật’ ư, này Keṇiya?” “Thưa Tôn giả Sela, vâng, tôi nói ‘Phật’.” “Ông nói ‘Phật’ ư, này Keṇiya?” “Thưa Tôn giả Sela, vâng, tôi nói ‘Phật’.” Bấy giờ Bà-la-môn Sela suy nghĩ:
“Chỉ riêng âm thanh ‘Phật’ này thôi cũng đã khó tìm được ở đời. Trong các thần chú của chúng ta có truyền lại ba mươi hai tướng của bậc đại nhân. Những ai có đủ ba mươi hai tướng ấy thì chỉ chọn một trong hai con đường, không có con đường nào khác: Nếu sống đời tại gia, vị ấy sẽ thành Chuyển luân vương — vị vua theo Pháp, vua của Pháp, chinh phục bốn phương, chiến thắng khắp nơi, giữ cho xứ sở được yên ổn, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu này của vị ấy là: xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, ngọc nữ báu, cư sĩ báu, và thứ bảy là tướng quân báu. Vị ấy có hơn một ngàn người con trai, ai nấy đều anh hùng, oai phong lẫm liệt, chiến thắng quân địch.
Vị ấy sống, thống lĩnh quả đất này cho đến tận đại dương, và trị vì bằng Pháp, không dùng gậy, không dùng gươm. Còn nếu vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình, vị ấy sẽ thành bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, người vén màn vô minh ở đời.” “Này Keṇiya, nay Tôn giả Gotama ấy — bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác ấy — đang trú ở đâu?” Nghe nói vậy, người bện tóc Keṇiya duỗi cánh tay phải ra, nói với Bà-la-môn Sela: “Thưa Tôn giả Sela, ở phía dãy rừng xanh kia.” Rồi Bà-la-môn Sela cùng với ba trăm thanh niên Bà-la-môn đi đến chỗ Đức Phật. Bà-la-môn Sela bảo những thanh niên ấy: “Các vị hãy đến một cách im lặng, đặt chân xuống từng bước một.
Các bậc Thế Tôn ấy như sư tử sống một mình, rất khó đến gần. Nếu ta có đàm luận với Sa-môn Gotama, các vị đừng ngắt lời ta giữa chừng; các vị hãy chờ ta nói xong.” Rồi Bà-la-môn Sela đi đến chỗ Đức Phật; đến nơi, ông nói với Đức Phật những lời chào đón, thăm hỏi. Sau khi nói những lời chào đón, thăm hỏi thân tình, ông ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Sela tìm xem ba mươi hai tướng của bậc đại nhân trên thân Đức Phật. Bà-la-môn Sela thấy trên thân Đức Phật phần lớn ba mươi hai tướng của bậc đại nhân, trừ hai tướng. Đối với hai tướng ấy, trong ông sanh nghi ngờ, sanh do dự, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng — đó là tướng chỗ kín được bao che kín đáo và tướng lưỡi rộng dài.
Bấy giờ Đức Phật suy nghĩ: “Bà-la-môn Sela này thấy trên thân Ta phần lớn ba mươi hai tướng của bậc đại nhân, trừ hai tướng. Đối với hai tướng ấy, trong ông sanh nghi ngờ, sanh do dự, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng — đó là tướng chỗ kín được bao che kín đáo và tướng lưỡi rộng dài.” Đức Phật liền dùng thần thông biến hóa như vậy, khiến Bà-la-môn Sela thấy được tướng chỗ kín được bao che của Đức Phật. Rồi Đức Phật thè lưỡi ra, chạm đến và liếm đến cả hai lỗ tai; chạm đến và liếm đến cả hai lỗ mũi; và dùng lưỡi phủ khắp cả vùng trán. Bấy giờ Bà-la-môn Sela suy nghĩ: “Sa-môn Gotama đã thành tựu ba mươi hai tướng của bậc đại nhân một cách đầy đủ, không phải không đầy đủ.
Nhưng ta vẫn chưa biết vị ấy là Phật hay không phải là Phật. Tuy vậy, ta có nghe các vị Bà-la-môn cao niên, lớn tuổi, các bậc thầy và thầy của thầy, nói như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy — những bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác — khi những lời tán thán về các Ngài được nói đến, các Ngài sẽ tự hiện bày chính mình.” Vậy ta hãy tán thán Sa-môn Gotama ngay trước mặt Ngài bằng những bài kệ xứng đáng.” Rồi Bà-la-môn Sela tán thán Đức Phật ngay trước mặt bằng những bài kệ xứng đáng như sau:
Khéo sanh và đẹp đẽ,
Thế Tôn sắc vàng chói,
Răng trơn, láng, tinh cần.
Ðối với người khéo sanh,
Những tướng tốt trang trọng,
Ðều có trên thân Ngài,
Tất cả Ðại nhân tướng.
Mắt sáng, mặt tròn đầy,
Cân đối, thẳng, hoàn mỹ,
Giữa chúng Sa-môn Tăng,
Ngài chói như mặt trời.
Ðẹp mắt vị Tỷ-kheo,
Da sáng như vàng chói,
Với hạnh Sa-môn, Ngài
Cần gì sắc tối thượng.
Ngài xứng bậc Ðại vương,
Chuyển Luân, bậc Ðiều Ngự,
Chiến thắng khắp thiên hạ,
Bậc tối thượng Diêm-phù.
Vương tộc, hào phú vương,
Là chư hầu của Ngài,
Là vua giữa các vua, Là Giáo chủ loài Người.
Hãy trị vì quốc độ, Tôn giả Gotama!
Sela, Ta là vua,
Nghĩa là
Thân Ngài trọn vẹn, chói sáng, sinh ra tốt đẹp, dung mạo dễ nhìn; Đức Thế Tôn có màu da vàng chói, răng trắng trơn láng, và đầy nghị lực. Đối với một người sinh ra tốt đẹp, những dấu tướng trang trọng nào thường có, thì tất cả đều có mặt trên thân Ngài — chính là tất cả các tướng của bậc đại nhân. Mắt sáng, khuôn mặt tròn đầy, thân hình cân đối, thẳng, hoàn mỹ; giữa Tăng đoàn các Sa-môn, Ngài chói sáng như mặt trời. Vị Tỷ-kheo này thật đẹp mắt, da sáng như vàng chói; vậy mà Ngài lại sống hạnh Sa-môn — với sắc diện cao nhất như vậy, Ngài cần gì nữa? Ngài xứng đáng làm bậc Đại vương, vị Chuyển luân vương, bậc điều ngự, chiến thắng khắp cả thiên hạ, bậc cao nhất của cõi Diêm-phù. Các vương tộc và những nhà giàu có quyền thế sẽ là chư hầu của Ngài; Ngài là vua giữa các vua, là bậc thầy của loài người. Xin Ngài hãy trị vì quốc độ, Tôn giả Gotama! “Này Sela, Ta là vua —
(Đức Phật)
Ta chuyển bánh xe pháp,
Bánh xe chưa từng chuyển.
Ngài tự nhận Giác giả Sela lại hỏi thêm,
Nghĩa là
bậc Pháp vương không ai sánh hơn; Ta chuyển bánh xe Pháp, bánh xe không ai có thể đẩy quay ngược lại.” “Ngài tự nhận mình là bậc Giác giả — Sela lại hỏi thêm —
(Bà-la-môn Sela)
Ta chuyển bánh xe Pháp”,
Ngài trả lời như vậy.
Tôn giả Gotama, Ai sẽ là tướng quân?
Là Tôn giả đệ tử? Vị đệ tử tín thành? Xứng đáng bậc Ðạo sư?
Sau Ngài, ai sẽ chuyển,
Pháp luân Ngài đã chuyển?
Này Sela, Ta chuyển bánh xe Pháp,
Nghĩa là
rằng: 'Bậc Pháp vương không ai sánh hơn, Ta chuyển bánh xe Pháp' — Tôn giả Gotama đã trả lời như vậy. Vậy, Tôn giả Gotama, ai sẽ là tướng quân của Ngài? Ai là vị đệ tử thừa hưởng của bậc Đạo sư? Sau Ngài, ai sẽ chuyển tiếp bánh xe Pháp mà Ngài đã chuyển?” “Này Sela, bánh xe do Ta chuyển là bánh xe Pháp;
(Đức Phật)
Chính Sāriputta, Chuyển bánh xe Chánh Pháp,
Thừa tự Như Lai vị.
Cần biết, Ta đã biết,
Cần tu, Ta đã tu,
Cần bỏ, Ta đã bỏ.
Do vậy Ta là Phật, Ôi, Tôn giả Phạm chí!
Còn gì nghi ở Ta,
Hãy gác bỏ một bên,
Hãy giải thoát khỏi chúng,
Ôi, Tôn giả Phạm chí!
Thấy được bậc Chánh Giác, Thật thiên nan vạn nan,
Bậc Chánh Giác ra đời, Thật thiên nan vạn nan!
Ta là bậc Chánh Giác,
Bậc Y vương vô thượng, Ôi, Tôn giả Phạm chí!
Là Phạm thiên khó sánh,
Nhiếp phục các ma quân.
Hàng phục mọi đối nghịch,
Ta sống tâm hoan hỷ, Không sợ hãi một ai, Không từ đâu run sợ.
Chư Tôn giả, hãy nghe!
Như bậc có mắt giảng,
Bậc Y vương, Anh hùng,
Sư tử rống rừng sâu.
Thấy Phạm thiên vô tỷ,
Nhiếp phục các ma quân,
Ai lại không tín thành,
Cho đến kẻ hạ tiện.
Ai muốn, hãy theo Ta,
Không muốn, hãy ra đi,
Ở đây, Ta xuất gia,
Bậc Trí Tuệ tối thượng!
Nếu Tôn giả tín thành,
Giáo pháp bậc Chánh Giác,
Chúng con cũng xuất gia,
Bậc Trí Tuệ tối thượng!
Ba trăm Phạm chí ấy,
Chắp tay xin được phép:
Chúng con sống Phạm hạnh,
Do Thế Tôn lãnh đạo!
Nầy Sela, Phạm hạnh được khéo giảng,
Nghĩa là
đó là bánh xe Pháp không ai sánh hơn. Chính Sāriputta sẽ chuyển tiếp bánh xe Chánh Pháp ấy, vị ấy là người thừa tự của Như Lai.” Điều cần biết, Ta đã biết; điều cần tu tập, Ta đã tu tập; điều cần từ bỏ, Ta đã từ bỏ. Vì vậy Ta là Phật, ôi Tôn giả Bà-la-môn! Hãy dẹp hết mọi nghi ngờ về Ta, hãy đặt trọn niềm tin, này Bà-la-môn, Thật hiếm có dịp nhìn thấy một bậc Chánh Đẳng Giác, dù lặp lại bao phen. Được thấy một bậc Chánh Giác là điều khó vô cùng, vì bậc Chánh Giác ít khi xuất hiện ở đời! Ta là bậc Chánh Giác, bậc Y vương không ai sánh hơn, ôi Tôn giả Bà-la-môn! Ta đã thành tựu như Phạm thiên, không ai sánh được, đã nhiếp phục đạo quân của Ma vương. Đã hàng phục mọi đối nghịch, Ta sống với tâm hoan hỷ, không sợ hãi một ai, không run sợ từ đâu cả.” “Chư Tôn giả, hãy nghe đây! Như lời bậc có mắt đang giảng: bậc Y vương, bậc anh hùng, như sư tử gầm trong rừng sâu. Thấy bậc thành tựu như Phạm thiên, không gì sánh được, đã nhiếp phục đạo quân Ma vương, ai lại không khởi lòng tin kính, dù là kẻ sinh ra trong hạng hạ tiện? Ai muốn, hãy theo ta; ai không muốn, hãy ra đi. Ở đây, ta sẽ xuất gia nơi bậc có trí tuệ cao nhất!” “Nếu Tôn giả tin kính giáo pháp của bậc Chánh Giác, chúng con cũng sẽ xuất gia nơi bậc có trí tuệ cao nhất!” Ba trăm vị Bà-la-môn ấy chắp tay lên và xin rằng: “Chúng con sẽ sống đời phạm hạnh dưới sự lãnh đạo của Thế Tôn!” “Này Sela, phạm hạnh đã được khéo giảng,
(Đức Phật)
Ở đây sự xuất gia, Không uổng công hoang phí,
Với ai không phóng dật, Tinh tấn chuyên tu học.
Nghĩa là
thiết thực ngay trong hiện tại, vượt khỏi tính thời gian. Ở đây, sự xuất gia không hề uổng công, hoang phí, đối với người không buông lung, tinh tấn chuyên tâm tu học.”
Bà-la-môn Sela cùng với hội chúng được xuất gia dưới sự lãnh đạo của Đức Phật, và được thọ đại giới. Rồi người bện tóc Keṇiya, sau khi đêm ấy qua đi, tại tịnh xá của mình, cho sửa soạn các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm xong, liền báo giờ lên Đức Phật: “Tôn giả Gotama, đã đến giờ! Bữa ăn đã sửa soạn xong.” Đức Phật vào buổi sáng đắp y, cầm bát, đi đến tịnh xá của người bện tóc Keṇiya; đến nơi, Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn cùng với Tăng đoàn. Rồi người bện tóc Keṇiya tự tay mời Tăng đoàn với Đức Phật dẫn đầu, làm cho các vị thỏa mãn với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Khi Đức Phật đã ăn xong và tay đã rời khỏi bát, người bện tóc Keṇiya lấy một ghế ngồi thấp khác và ngồi xuống một bên.
Với người bện tóc Keṇiya đang ngồi một bên, Đức Phật nói lời tùy hỷ công đức bằng những bài kệ sau đây:
Savitti là tối thượng, Giữa bài thơ Veda.
Vua là bậc tối thượng, Giữa thế giới loài Người,
Ðại dương là tối thượng, Giữa các loại sông ngòi.
Mặt trăng là tối thượng, Giữa các vì sao sáng,
Nghĩa là
Lễ tế lửa đứng đầu trong các lễ hiến tế, thần chú Savitti đứng đầu giữa các bài thơ Vệ-đà. Vua là bậc cao nhất giữa thế giới loài người, đại dương là lớn nhất giữa các loại sông ngòi. Mặt trăng đứng đầu giữa các vì sao sáng,
Mặt trời đứng đầu giữa những vật chiếu sáng,
Chúng Tăng thật tối thượng, Với những ai bố thí,
Nghĩa là
những ai mong ước phước đức sẽ gặt hái nhiều công đức; và Tăng đoàn thật là cao nhất đối với những ai bố thí, mong cầu phước đức.
Đức Phật, sau khi dùng những bài kệ này nói lời tùy hỷ công đức với người bện tóc Keṇiya, đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi. Rồi Tôn giả Sela cùng với hội chúng sống một mình, yên tịnh, không buông lung, nhiệt tâm, chuyên cần. Và không bao lâu sau, Tôn giả tự mình chứng ngộ ngay trong hiện tại, đạt được và an trú vào mục đích tối cao của đời phạm hạnh — mục đích mà các thiện nam tử vì đó xuất gia, từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình: “Sinh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ không còn đời sống nào khác nữa.” Tôn giả biết rõ như vậy. Và Tôn giả Sela cùng với hội chúng trở thành các vị A-la-hán. Rồi Tôn giả Sela cùng với hội chúng đi đến chỗ Đức Phật; đến nơi, các vị đắp y lệch vào một bên vai, chắp tay hướng về Đức Phật, và nói với Đức Phật bằng bài kệ sau đây:
Chúng con đã đến Ngài, Xin phát nguyện quy y.
Thế Tôn trong bảy đêm, Ðã nhiếp phục chúng con,
Ðã chế ngự chúng con, Trong giáo lý của Ngài.
Ngài là bậc Giác Giả,
Ngài là bậc Ðạo Sư,
Ngài là bậc Mâu-ni, Ðã chiến thắng quần ma.
Sau khi Ngài đoạn trừ, Vượt qua biển sanh tử, Ngài giúp quần sanh này, Cùng vượt qua bể khổ.
Sanh y Ngài vượt qua,
Lậu hoặc Ngài nghiền nát,
Ngài là Sư tử chúa,
Không chấp, không sợ hãi.
Ba trăm Tỷ-kheo này,
Ðồng chắp tay đứng thẳng,
Ôi anh hùng chiến thắng, Hãy duỗi chân bước tới.
Hãy để các Ðại nhân Ðảnh lễ bậc Ðạo Sư.
Nghĩa là
Kính bạch bậc Pháp Nhãn: cách đây tám ngày, chúng con đã đến nơi Ngài và xin phát nguyện quy y. Trong bảy đêm, Thế Tôn đã nhiếp phục chúng con, đã chế ngự chúng con trong giáo lý của Ngài. Ngài là bậc Giác Giả, Ngài là bậc Đạo Sư, Ngài là bậc Mâu-ni đã chiến thắng đoàn quân Ma vương. Sau khi Ngài đoạn trừ các mầm tái sinh, đã vượt qua biển sinh tử, Ngài giúp quần sinh này cùng vượt qua bể khổ. Ngài đã vượt qua mọi cơ sở của sự tái sinh, các lậu hoặc (những ô nhiễm sâu trong tâm) đã bị Ngài nghiền nát; Ngài là Sư tử chúa, không chấp thủ, không sợ hãi. Ba trăm vị Tỷ-kheo này đang cùng chắp tay đứng thẳng; ôi bậc anh hùng chiến thắng, xin hãy duỗi chân bước tới, để các bậc đại nhân được đảnh lễ bậc Đạo Sư.
Kinh Sela (hết).