Kinh Với Chi Tiết
Đức Phật giải thích chi tiết bốn đạo hành: người bẩm sinh tham, sân, si mạnh thì hành trì đau khổ, người tham, sân, si nhẹ thì hành trì dễ chịu. Trong mỗi trường hợp, năm căn (tín, tấn, niệm, định, tuệ) yếu thì thắng trí đến chậm, năm căn mạnh thì thắng trí đến nhanh trên đường đoạn tận các lậu hoặc.
Điểm thực hànhTốc độ tiến bộ tùy thuộc sức mạnh của năm căn; thay vì so sánh với người khác, hãy vun bồi tín, tấn, niệm, định, tuệ của chính mình.
17. Phẩm Đạo Hành
Kinh Với Chi Tiết
“Này các Tỷ-kheo (vị tu sĩ khất thực), có bốn đạo hành này.
Bốn đạo hành ấy là gì?
Đạo hành khổ, thắng trí chậm;
đạo hành khổ, thắng trí nhanh;
đạo hành lạc, thắng trí chậm; và
đạo hành lạc, thắng trí nhanh.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành khổ, thắng trí chậm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bẩm sinh có tham rất mạnh, thường xuyên cảm nhận nỗi khổ và ưu phiền do tham sinh ra.
Người ấy bẩm sinh có sân rất mạnh, thường xuyên cảm nhận nỗi khổ và ưu phiền do sân sinh ra.
Người ấy bẩm sinh có si rất mạnh, thường xuyên cảm nhận nỗi khổ và ưu phiền do si sinh ra.
Với người ấy, năm căn này biểu hiện yếu ớt:
tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn.
Do năm căn của mình yếu, vị ấy chậm đạt được vô gián định để đoạn tận các lậu hoặc (những ô nhiễm sâu trong tâm).
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành khổ, thắng trí chậm.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành khổ, thắng trí nhanh?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bẩm sinh có tham rất mạnh, thường xuyên cảm nhận nỗi khổ và ưu phiền do tham sinh ra.
Người ấy bẩm sinh có sân rất mạnh, thường xuyên cảm nhận nỗi khổ và ưu phiền do sân sinh ra.
Người ấy bẩm sinh có si rất mạnh, thường xuyên cảm nhận nỗi khổ và ưu phiền do si sinh ra.
Với người ấy, năm căn này biểu hiện mạnh mẽ:
tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn.
Do năm căn của mình mạnh, vị ấy nhanh chóng đạt được vô gián định để đoạn tận các lậu hoặc.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành khổ, thắng trí nhanh.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành lạc, thắng trí chậm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bẩm sinh không có tham mạnh, hiếm khi cảm nhận nỗi khổ và ưu phiền do tham sinh ra.
Người ấy bẩm sinh không có sân mạnh, hiếm khi cảm nhận nỗi khổ và ưu phiền do sân sinh ra.
Người ấy bẩm sinh không có si mạnh, hiếm khi cảm nhận nỗi khổ và ưu phiền do si sinh ra.
Với người ấy, năm căn này biểu hiện yếu ớt:
tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn.
Do năm căn của mình yếu, vị ấy chậm đạt được vô gián định để đoạn tận các lậu hoặc (những ô nhiễm sâu trong tâm).
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành lạc, thắng trí chậm.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành lạc, thắng trí nhanh?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bẩm sinh không có tham mạnh, hiếm khi cảm nhận nỗi khổ và ưu phiền do tham sinh ra.
Người ấy bẩm sinh không có sân mạnh, hiếm khi cảm nhận nỗi khổ và ưu phiền do sân sinh ra.
Người ấy bẩm sinh không có si mạnh, hiếm khi cảm nhận nỗi khổ và ưu phiền do si sinh ra.
Với người ấy, năm căn này biểu hiện mạnh mẽ:
tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn.
Do năm căn của mình mạnh, vị ấy nhanh chóng đạt được vô gián định để đoạn tận các lậu hoặc.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành lạc, thắng trí nhanh.
Này các Tỷ-kheo, đó là bốn đạo hành.”
Bài thứ 2.
Nghĩa là
Tiêu đề: Tăng Chi Bộ Kinh, bài 4.162. Tên phẩm 17: Đạo Hành. Tên kinh: Giải thích chi tiết. Có bốn cách hành trì (đạo hành). Câu hỏi mở đầu liệt kê. Đạo hành đau khổ mà hiểu biết chậm. Đạo hành đau khổ mà hiểu biết nhanh. Đạo hành dễ chịu mà hiểu biết chậm. Đạo hành dễ chịu mà hiểu biết nhanh. Câu hỏi xác định loại đạo hành này. Người ấy bẩm sinh tham rất mạnh, hay chịu khổ do tham. Người ấy bẩm sinh sân rất mạnh, hay chịu khổ do sân. Người ấy bẩm sinh si rất mạnh, hay chịu khổ do si. Năm căn của người ấy mạnh hay yếu. Năm căn: tín, tấn, niệm, định, tuệ. Căn yếu nên tiến chậm đến đích đoạn tận lậu hoặc. Định danh loại đạo hành. Câu hỏi xác định loại đạo hành này. Người ấy bẩm sinh tham rất mạnh, hay chịu khổ do tham. Người ấy bẩm sinh sân rất mạnh, hay chịu khổ do sân. Người ấy bẩm sinh si rất mạnh, hay chịu khổ do si. Năm căn của người ấy mạnh hay yếu. Năm căn: tín, tấn, niệm, định, tuệ. Căn mạnh nên tiến nhanh đến đích đoạn tận lậu hoặc. Định danh loại đạo hành. Câu hỏi xác định loại đạo hành này. Người ấy bẩm sinh tham nhẹ, ít chịu khổ do tham. Người ấy bẩm sinh sân nhẹ, ít chịu khổ do sân. Người ấy bẩm sinh si nhẹ, ít chịu khổ do si. Năm căn của người ấy mạnh hay yếu. Năm căn: tín, tấn, niệm, định, tuệ. Căn yếu nên tiến chậm đến đích đoạn tận lậu hoặc. Định danh loại đạo hành. Câu hỏi xác định loại đạo hành này. Người ấy bẩm sinh tham nhẹ, ít chịu khổ do tham. Người ấy bẩm sinh sân nhẹ, ít chịu khổ do sân. Người ấy bẩm sinh si nhẹ, ít chịu khổ do si. Năm căn của người ấy mạnh hay yếu. Năm căn: tín, tấn, niệm, định, tuệ. Căn mạnh nên tiến nhanh đến đích đoạn tận lậu hoặc. Định danh loại đạo hành. Đó là bốn đạo hành. Kết thúc bài thứ hai.