Người Nữ Và Mười Pháp
Cùng khuôn khổ địa ngục — thiên giới như hai kinh trước, kinh này áp dụng cho người nữ: mười nghiệp đạo bất thiện khiến người nữ như bị mang đi đặt xuống địa ngục, mười pháp thiện đưa lên thiên giới. Mười nghiệp không hề thay đổi theo giới tính hay địa vị — đó là điểm chính của cả loạt kinh này: nghiệp vận hành công bằng với mọi người.
Điểm thực hànhMười nghiệp đạo là thước đo chung cho tất cả mọi người — vua hay dân, nam hay nữ, xuất gia hay tại gia. Khi tự xét mình, đừng tìm một tiêu chuẩn riêng dễ dãi hơn: hãy dùng đúng mười pháp này.
Phẩm Thân Sinh Từ Nghiệp Kinh Người Nữ — Người nữ thành tựu mười pháp, này các Tỷ-kheo, như bị mang đi và đặt xuống như vậy trong địa ngục. Mười pháp ấy là gì? Bà sát sinh, hung dữ, tay đẫm máu, chuyên tâm giết hại đánh đập, không chút lòng thương xót đối với mọi loài hữu tình. Bà lấy của không cho: tài sản, đồ dùng của người khác, ở làng hay ở rừng, bà lấy trộm những gì không được cho. Bà tà hạnh trong các dục: có quan hệ với những người nam không thuộc về mình — người có vợ, người đã hứa hôn, cho đến người mới được đeo vòng hoa hứa hôn. Bà nói láo: khi làm chứng, không biết mà nói “tôi biết”, biết mà nói “tôi không biết”, không thấy mà nói “tôi thấy”, thấy mà nói “tôi không thấy”, cố ý nói láo vì mình, vì người khác hay vì chút lợi lộc.
Bà nói hai lưỡi: nghe ở đây rồi đi nói ở kia để chia rẽ người này, nghe ở kia rồi về nói ở đây để chia rẽ người kia; bà chia rẽ người đang hòa hợp, xúi giục người đã chia rẽ, ưa thích và nói lời gây chia rẽ. Bà nói lời độc ác: lời nói thô lỗ, cộc cằn, cay đắng cho người khác, xúc phạm người khác, gần với sân hận, không đưa đến định tâm. Bà nói lời phù phiếm: nói không đúng lúc, nói điều không thật, nói điều vô ích, nói trái Pháp, nói trái Luật; lời nói không có giá trị, không căn cứ, không giới hạn. Bà tham đắm: tài sản, đồ dùng của người khác, bà tham muốn: “Ôi, mong sao của người kia trở thành của mình!”. Bà có tâm sân hận, ý nghĩ hư hỏng: “Mong sao những chúng sinh này bị giết, bị trói, bị tiêu diệt, bị hủy hoại, hay đừng có tồn tại nữa!”.
Bà có tà kiến: “Không có ý nghĩa trong bố thí, cúng tế, lễ vật; không có quả của nghiệp thiện ác; không có đời này, đời sau; không có mẹ cha; không có chúng sinh hóa sinh; không có Sa-môn, Bà-la-môn chứng ngộ đời này đời sau”. Này các Tỷ-kheo, người nữ thành tựu mười pháp này, như bị mang đi và đặt xuống như vậy trong địa ngục. Người nữ thành tựu mười pháp, này các Tỷ-kheo, như bị mang đi và đặt xuống như vậy trên thiên giới. Mười pháp ấy là gì? Bà từ bỏ sát sinh, tránh xa sát sinh; buông bỏ gậy gộc và vũ khí, biết hổ thẹn, giàu lòng thương xót, sống từ bi với mọi loài hữu tình. Bà từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho: tài sản của người khác, ở làng hay ở rừng, bà không lấy trộm những gì không được cho.
Bà từ bỏ tà hạnh trong các dục, tránh xa tà hạnh trong các dục: không có quan hệ với những người nam không thuộc về mình — người có vợ, người đã hứa hôn, cho đến người mới được đeo vòng hoa hứa hôn. Bà từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo: khi làm chứng, không biết thì nói “tôi không biết”, biết thì nói “tôi biết”, không thấy thì nói “tôi không thấy”, thấy thì nói “tôi thấy”; bà không cố ý nói láo vì bất cứ lý do gì. Bà từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi: không mang chuyện chỗ này sang chỗ kia để chia rẽ; bà hòa giải người đang chia rẽ, củng cố người đang hòa hợp, ưa thích và nói lời gây hòa hợp. Bà từ bỏ nói lời độc ác, tránh xa nói lời độc ác: lời nói không lỗi lầm, dễ nghe, đáng yêu, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người ưa thích.
Bà từ bỏ nói lời phù phiếm, tránh xa nói lời phù phiếm: nói đúng lúc, nói điều thật, nói điều có ích, nói đúng Pháp, nói đúng Luật; lời nói có giá trị, có căn cứ, có giới hạn, liên hệ đến lợi ích. Bà không tham đắm: tài sản, đồ dùng của người khác, bà không tham muốn chúng trở thành của mình. Bà có tâm không sân hận, ý nghĩ không hư hỏng: “Mong sao những chúng sinh này không thù oán, không xung đột, không khổ đau, tự gìn giữ mình được an lạc!”. Bà có chánh kiến: “Có ý nghĩa trong bố thí, cúng tế, lễ vật; có quả của nghiệp thiện ác; có đời này, đời sau; có mẹ cha; có chúng sinh hóa sinh; có Sa-môn, Bà-la-môn chứng ngộ đời này đời sau”. Này các Tỷ-kheo, người nữ thành tựu mười pháp này, như bị mang đi và đặt xuống như vậy trên thiên giới.”
Bài thứ 3.